Chuyên mục Lý luận và cuộc sống tháng 12 năm 2013

Ngày đăng: 07/07/2014

Biển Đông đóng vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế và an ninh quốc phòng. Hầu hết các ngành kinh tế mũi nhọn đều gắn kết với biển như du lịch, dầu khí, thủy sản, giao thông vận tải ...vv. Tuy nhiên, từ đầu năm 2007 đến nay, tình hình Biển Đông diễn biến theo chiều hướng phức tạp, các nước trong khu vực đều công bố chủ quyền của mình trên Biển Đông.

Chủ đề: “Tình hình tranh chấp chủ quyền ở biển đông trong giai đoạn hiện nay”

Lời dẫn: (PV)  

 Biển Đông đóng vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế và an ninh quốc phòng. Hầu hết các ngành kinh tế mũi nhọn đều gắn kết với biển như du lịch, dầu khí, thủy sản, giao thông vận tải ...vv. Tuy nhiên, từ đầu năm 2007 đến nay, tình hình Biển Đông diễn biến theo chiều hướng phức tạp, các nước trong khu vực đều công bố chủ quyền của mình trên Biển Đông.

Trước tình hình đó, để bảo vệ và giữ vững chủ quyền biển đảo là một trong những nhiệm vụ có ý nghĩa hết sức quan trọng. Đó không chỉ là trách nhiệm của cá nhân mà là trách nhiệm của cả cộng đồng cùng thực hiện các chính sách, chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước ta về chủ quyền biển đảo.

Hôm nay, Trường Chính trị phối hợp với Đài truyền hình tỉnh tổ chức buổi toạ đàm với chủ đề: “Tình hình tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông trong giai đoạn hiện nay”.

         Tham dự buổi toạ đàm, tôi xin trân trọng giới thiệu:

1. Đồng chí Lê Bá Lộc - Trưởng khoa Lý luận cơ sở - Trường Chính trị tỉnh.

2. Đồng chí Nguyễn Văn Tranh - Giảng viên Khoa Lý luận cơ sở - Trường Chính trị tỉnh.

3. Đồng chí Phạm Ngọc Yến - Giảng viên Khoa Lý luận cơ sở - Trường Chính trị tỉnh.

Mở đầu buổi tọa đàm, xin hỏi đồng chí Lê Bá Lộc: Đồng chí cho biết những vấn đề lớn trên biển liên quan đến biên giới, lãnh thổ mà hiện nay chúng ta cần phải giải quyết ?

Trả lời: (Đ/c Lộc)

Hiện nay, trên biển chúng ta còn bốn vấn đề lớn liên quan đến biên giới lãnh thổ cần phải giải quyết:

Một là: Tranh chấp chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa giữa Việt Nam và Trung Quốc;

Hai là: Tranh chấp chủ quyền trên quần đảo Trường Sa giữa 5 nước 6 bên gồm Việt Nam, Trung Quốc, Malaysia, Philipin, Đài Loan và Brunei;

Ba là: Phân định ranh giới các vùng biển theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982.

Bốn là: việc xác định ranh giới ngoài của thềm lục địa. Trong đó, việc giải quyết tranh chấp chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đặc biệt phức tạp và khó khăn do vị trí chiến lược của hai quần đảo này cũng như các yếu tố tài nguyên ở khu vực xung quanh hai quần đảo; do mối quan hệ mật thiết với các vấn đề biên giới lãnh thổ trên các vùng biển khác cũng như ảnh hưởng tới quan hệ giữa các nước liên quan. Đây cũng là vấn đề thu hút sự quan tâm của các cường quốc và là yếu tố đảm bảo sự cân bằng và ổn định trên Biển Đông.

(PV). Đồng chí cho biết cụ thể về tình hình tranh chấp chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa giữa Việt Nam và Trung Quốc và tranh chấp chủ quyền trên quần đảo Trường Sa giữa Việt Nam, Trung Quốc, Malaysia, Philipin, Đài Loan và Brunei ?

Trả lời: (Đ/c Lộc)

Theo các tài liệu lịch sử và các tài liệu pháp lý hiện có, có thể khẳng định các nhà nước phong kiến Việt Nam đã chiếm hữu và làm chủ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa một cách hoà bình, thực sự và liên tục ít nhất từ thế kỷ thứ XVII, sau đó chính quyền Đông Dương tiếp tục củng cố chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo này thông qua các hoạt động như thành lập chính quyền, cử lính ra đồn trú trên hai quần đảo. Tính đến đầu thế kỷ XX trên thực tế vẫn chưa có quốc gia nào đưa ra yêu sách chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đối với Việt Nam.

Các bản đồ cổ của Trung Quốc cũng chỉ thể hiện phạm vi lãnh thổ phía Nam đến đảo Hải Nam. Trải qua thời gian dài với nhiều biến chuyển lịch sử, cùng với ý đồ mở mang lãnh thổ, năm 1956, lợi dụng lúc Pháp rút khỏi Đông Dương, Trung  Quốc đã dùng vũ lực chiếm phần phía Đông của quần đảo Hoàng Sa và năm 1974 Trung Quốc tiếp tục dùng lực lượng hải quân và không quân đánh chiếm phần phía Tây của quần đảo.

Trên quần đảo Trường Sa, chúng ta đang thực hiện chủ quyền quốc gia và quản lý hành chính trên 21 đảo đá và bãi cạn nửa nổi nửa chìm. Thông qua sách trắng các năm 1979, 1981 và 1989, Việt Nam đã thể hiện quan điểm trước sau như một, khẳng định chủ quyền quốc gia trên hai quần đảo này, bên cạnh công tác đàm phán ngoại giao, đấu tranh bảo vệ chủ quyền quốc gia bằng các biện pháp hoà bình, chúng ta cũng tiếp tục củng cố vị trí của mình trên quần đảo Trường Sa.

 Để giải quyết vấn đề chủ quyền, Việt Nam đã mở nhiều diễn đàn đàm phán các vấn đề trên biển thực chất là giải quyết vấn đề chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa với Trung Quốc. Cùng với hoạt động đàm phán song phương, chúng ta kiên trì đấu tranh, khẳng định chủ quyền quốc gia trên hai quần đảo tại tất cả các diễn đàn quốc tế có liên quan và đồng thời tiếp tục hoàn thiện hồ sơ pháp lý và lịch sử về chủ quyền của ta trên hai quần đảo. Tháng 11/2002 tại Pnonh Penh (Campuchia), các nước ASEAN và Trung Quốc đã ký kết.

Tuyên bố ứng xử trên Biển Đông (DOC), được đánh giá là một bước tiến quan trọng, là cơ sở để duy trì ổn định khu vực trong khi các bên tiếp tục tìm kiếm một giải pháp cơ bản và lâu dài giải quyết các tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông. Một số đảo đá và bãi cạn khác thuộc quần đảo Trường Sa đang bị một số nước chiếm đóng trái phép, các bên tranh chấp cũng đưa ra các lập luận, ban hành các văn bản pháp luật để biện minh cho việc chiếm đóng này.

a. Trung Quốc: Trung Quốc yêu sách chủ quyền đối với cả hai quần đảo bằng việc vẽ đường đứt khúc 9 đoạn trên Biển Đông, mà ta thường gọi là "đường lưỡi bò" trên bản đồ Nam Hải chư đảo do Trung Hoa dân quốc xuất bản năm 1947 và được CHND Trung Hoa in lại năm 1950, bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa trong cái gọi là "biên giới trên biển" của Trung Quốc. Mặc dù bị hầu hết các nước có yêu sách và lợi ích liên quan trong khu vực phản đối nhưng qua việc theo dõi các động thái trên biển và trên các phương tiện tuyên truyền của Trung Quốc, có thể thấy Trung Quốc ngày càng thể hiện rõ và từng bước thực hiện yêu sách này. Trong thời gian gần đây Trung Quốc đã liên tục ban hành nhiều văn bản pháp luật để cụ thể hoá các yêu sách của mình trên Biển Đông. Hiện nay, Trung Quốc chiếm giữ 7 bãi ngầm thuộc quần đảo Trường Sa.

b. Philipin: Philipin công bố Sắc lệnh 1596 tháng 2/1979 về vùng Kalayaan, theo đó hầu hết quần đảo Trường Sa (trừ đảo Trường Sa) là lãnh thổ của Philipin và được sáp nhập vào tỉnh Palawan. Lập luận của Philipin về việc xác định vùng Kalayaan là tính kế cận và quyền lợi an ninh quốc phòng của Philipin đối với quần đảo này. Hiện nay, Philipin đang chiếm đóng 9 đảo đá thuộc quần đảo Trường Sa.

c. Malaysia: Ngày 02/12/1979, Malaysia xuất bản bản đồ qui định về phạm vi lãnh hải và ranh giới thềm lục địa, theo đó một phần phía Nam quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của Malaysia. Hiện nay, Malaysia đang chiếm giữ 5 đảo thuộc quần đảo Trường Sa.

d. Đài Loan: Ngày 21/5/1992, Đài Loan thông qua một đạo luật tuyên bố chủ quyền và lãnh hải, theo đạo luật này toàn bộ quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Đài Loan. Hiện nay, Đài Loan đang chiếm đóng trên đảo Ba Bình, là đảo có diện tích lớn nhất trong quần đảo Trường Sa. Tháng 8/2003, Đài Loan đã cho cắm cờ trên bãi Bàn Than (bãi đá san hô nửa nổi nửa chìm, rộng khoảng 400m, dài khoảng 200m thuộc quần đảo Trường Sa, nằm cách đảo Ba Bình khoảng 4 km về phía Đông và cách đảo Sơn Ca khoảng 6,5 km về phía Tây) và mới đây, ngày 23/3/2004, phía Đài Loan đã xây dựng một nhà cao chân trên bãi này. Như vậy, đến nay Đài Loan đang chiếm giữ một đảo và một bãi cạn thuộc quần đảo Trường Sa.

e. Brunei: Năm 1993, Brunei đưa ra Tuyên bố về ranh giới thềm lục địa 200 hải lý nhưng chưa đưa ra toạ độ cụ thể. Tuy nhiên, phần chồng lấn với Việt Nam và Malaysia trên quần đảo Trường Sa tương đối nhỏ, không ảnh hưởng đáng kể tới tranh chấp. Brunei cũng là nước duy nhất trong các bên yêu sách không chiếm giữ vị trí nào trong quần đảo Trường Sa.

Vâng, xin cảm ơn đồng chí.

(PV). Tiếp theo chương trình, xin hỏi đồng chí Nguyễn Văn Tranh: Đồng chí cho biết việc phân định ranh giới các vùng biển theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 như thế nào ?

Trả lời: (Đ/c Tranh)

Một là Giải quyết vùng chồng lấn thềm lục địa với Malaysia

Giữa Việt Nam và Malaysia tồn tại một vùng chồng lấn biển và thềm lục địa rộng khoảng 2.800 kmđược hình thành bởi đường ranh giới thềm lục địa do chính quyền Sài Gòn công bố năm 1971 và đường ranh giới thềm lục địa được Malaysia thể hiện trên bản đồ xuất bản năm 1979. Ngày 05/6/1992, tại Kuala Lumpur (Malaysia), hai nước đã ký thoả thuận hợp tác thăm dò khai thác chung vùng chồng lấn, giao cho các công ty dầu khí của hai nước ký các dàn xếp thương mại và tiến hành hợp tác thăm dò, khai thác tiềm năng dầu khí ở khu vực này. Việc phân định vùng chồng lấn sẽ giải quyết sau. Hiện nay, hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí ở khu vực này đang tiến triển tốt.

Hai là Giải quyết vùng chồng lấn ba nước Việt Nam - Thái lan - Malaysia

Vùng khai thác chung giữa Thái Lan và Malaysia rộng khoảng 7.250 km2, trong đó có khoảng 875 km2 là vùng chồng lấn thềm lục địa ba nước Việt Nam - Thái Lan - Malaysia. Ba nước đã thỏa thuận thông qua đàm phán, thương lượng để giải quyết vấn đề này, trước mắt đã thoả thuận được một số nội dung chủ yếu liên quan tới mô hình hợp tác và các vấn đề kỹ thuật.

Ba là Giải quyết phân định biên giới biển với Campuchia

Ngày 07/7/1982, Chính phủ hai nước Việt Nam - Campuchia đã ký Hiệp định về vùng nước lịch sử, ngoài nội dung xác định vùng nước lịch sử giữa hai nước trong Vịnh Thái Lan, Hiệp định cũng thoả thuận sẽ hoạch định đường biên giới biển giữa hai nước vào thời điểm thích hợp. Hiện nay, hai nước đang tập trung tiến hành đàm phán phân định biên giới trên đất liền, vấn đề biên giới trên biển sẽ được tiếp tục đàm phán, giải quyết trong thời gian tới.

(PV). Đ/c có thể cho biết thêm những bằng chứng lịch sử về chủ quyền của Việt Nam ở biển Đông hiện nay?

Trả lời:

Những bằng chứng chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa dựa trên những bằng chứng lịch sử và pháp lý.

Về lịch sử, các tài liệu chép sử của triều đình nhà Nguyễn đã mô tả một cách thống nhất rằng từ thế kỷ XVII các đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải đã được chúa Nguyễn cử ra Hoàng Sa và Trường Sa khai thác các sản vật trong vòng sáu tháng trong một năm. Sau khi trở về sẽ phải nộp thuế cho các điểm thu thuế của triều đình. Các hoạt động này được tiến hành liên tục cho đến khi Pháp xâm chiếm Việt Nam. Thậm chí một số tài liệu nước ngoài còn mô tả dưới triều vua Gia Long vào năm 1816.

Dưới thời Pháp thuộc, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm dưới sự quản lý trực tiếp của họ. Vào năm 1933, Pháp đã ra tuyên bố chủ quyền đối với hai quần đảo này theo đúng trình tự về chiếm hữu lãnh thổ của luật quốc tế. Pháp cũng đã duy trì sự chiếm đóng và xác lập địa giới hành chính cho Hoàng Sa và Trường Sa và sáp nhập vào lãnh thổ Việt Nam, với tư cách là chính quyền bảo hộ cho Việt Nam thời kỳ này. Điều này chứng minh rằng Pháp đã thực hiện việc chiếm hữu Hoàng Sa và Trường Sa cho Việt Nam với tư cách là chính quyền bảo hộ của Việt Nam. Sau khi rút khỏi Việt Nam, Pháp đã chuyển giao việc kiểm soát hai quần đảo này cho chính quyền Việt Nam. Nói cách khác, chủ quyền đã được Pháp xác lập hợp pháp tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã được Việt Nam Cộng hòa (chính quyền Sài Gòn) kế thừa.

Chính quyền Sài Gòn đã tiếp tục duy trì sự kiểm soát hiệu quả đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thông qua các hoạt động chiếm đóng, quản lý liên tục cho tới khi chuyển giao lại cho Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam.

Năm 1976 khi Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam sáp nhập với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN), nước Việt Nam thống nhất đã kế thừa chủ quyền của Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa.

Như vậy, xuất phát từ danh nghĩa lịch sử và căn cứ pháp lý về chủ quyền được xác lập hợp pháp từ thời phong kiến nhà Nguyễn, thời kỳ chính quyền bảo hộ Pháp và được kế thừa hợp pháp, CHXHCN Việt Nam có đầy đủ cơ sở theo các quy định của luật quốc tế để xác lập chủ quyền với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Vâng, xin cảm ơn đồng chí.

(PV). Xin hỏi đồng chí Phạm Ngọc Yến.  Đồng chí cho biết Quan điểm của Đảng và nhà nước ta về chủ quyền ở biển Đông trong giai đoạn hiện nay?

Trả lời: (Đ/c Yến)

   Ngày 12-5-1977, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.

     Ngày 23-6-1994, tại Kỳ họp thứ 5, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (khóa IX) đã thông qua Nghị quyết về việc phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982.

      Bằng việc phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam biểu thị quyết tâm cùng cộng đồng quốc tế xây dựng một trật tự pháp lý công bằng, khuyến khích sự phát triển và hợp tác trên biển.

      Quốc hội một lần nữa khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và chủ trương giải quyết các tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ cũng như các bất đồng khác liên quan đến biển Đông thông qua thương lượng hòa bình trên tinh thần bình đẳng, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng pháp luật quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, tôn trọng quyền chủ quyền và quyền tài phán của các nước ven biển đối với vùng đặc quyền kinh tế về thềm lục địa; trong khi nỗ lực thúc đẩy đàm phán để tìm giải pháp cơ bản và lâu dài, các bên liên quan cần duy trì ổn định trên cơ sở giữ nguyên trạng không có hành động làm phức tạp thêm tình hình, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực. Quốc hội nhấn mạnh cần phân biệt vấn đề giải quyết tranh chấp về quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa với vấn đề bảo vệ các vùng biển và thềm lục địa thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam căn cứ vào những nguyên tắc và những tiêu chuẩn của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982.

Vâng, xin cảm ơn đồng chí.

(PV). Thưa đ/c Lê Bá Lộc, Trong tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông hiện nay chủ yếu nổi lên từ phía Trung Quốc với yêu sách đường đứt khúc 9 đoạn mà ta thường gọi là "đường lưỡi bò". Trong một số bản đồ cổ của Trung quốc đề cập đến Biển Đông, Trường sa, Hoàng sa rất mờ nhạt. Đồng chí có thể cho biết rõ hơn về vấn đề này?

Trả lời (đ/c Lộc)

Biển Đông, Trường sa, Hoàng sa qua một số bản đồ cổ tương đối mờ nhạt, cụ thể là:

1. Thanh Đại Nhất Thống Địa Đồ (năm 1760): Thuyết minh về cương vực thời kì Đại Thanh. Theo hiển thị trên bản đồ thì cương giới phía nam của Trung Quốc kết thúc ở đảo Hải Nam.

2. Đại Thanh Nhất Thống Thiên Hạ Toàn Đồ (năm 1818) do Chu Tích Linh vẽ (Từ “Địa đồ Trung Quốc”, Thư viện Đại học Hongkong, năm 2003), là tấm bản đồ về cương giới quốc gia với đường biên giới của Trung Quốc được viền màu đỏ. Kim Môn, Hạ Môn và đảo Hải Nam đều dùng màu đỏ vẽ liền với đại lục, còn Đài Loan và quần đảo Đan Sơn thì được khoanh tròn riêng bằng màu đỏ, để chứng tỏ là một phần của Trung Quốc. Trên bản đồ có xuất hiện hai cái tên Vạn Lý Trường Sa (Trường Sa) và Thiên Lý Thạch Đường (Hoàng Sa), nhưng những địa danh này đều nằm ngoài cương giới lãnh thổ Trung Quốc.

3. Hải Quốc Đồ Chí (năm 1852) là cuốn thư tịch về địa lí thế giới do Ngụy Nguyên biên soạn. Trong Duyên cách đồ cách quốc Đông Nam Dương (biển Đông Nam) ở sách này có xuất hiện các địa danh Vạn Lý Trường Sa và Thiên Lý Thạch Đường. Một số sách của Trung Quốc đã dẫn tấm bản đồ này làm chứng cứ cho chủ quyền của Trung Quốc đối với Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa), song không hề có căn cứ, vì: Tên bản đồ chỉ chính xác đây là bản đồ Đông Nam Á và trên bản đồ, không có bất cứ kí hiệu gì thể hiện Vạn Lý Trường Sa và Thiên Lý Thạch Đường thuộc Trung Quốc.

4. Quảng Đông Đồ (năm 1866), là tập bản đồ chi tiết về khu vực Quảng Đông. Chính phủ Dân quốc luôn tuyên bố xét về lịch sử, các quần đảo ở Nam Hải là một phần của Quảng Đông. Tập bản đồ này hiển thị đất thuộc Quảng Đông chỉ bao gồm Hải Nam và các đảo ngoài khơi Quảng Đông, thậm chí còn không bao gồm cả Đông Sa.

Vâng xin cảm ơn đồng chí.

(PV). Thưa đồng chí Phạm Ngọc Yến, đồng chí cho biết vấn đề Biển Đông qua một số bản đồ của Trung Quốc từ năm 1905 đến năm 1934 ?

Trả lời: (đ/c Yến)

1. Đại Thanh Đế Quốc Toàn Đồ (năm 1905). Nguồn từ “Trung Quốc Cổ Địa Đồ Trân Tập”, Nhà xuất bản bản đồ Tây An, năm 1995. Cương giới phía Nam của Trung Quốc trên bản đồ chỉ tới đảo Hải Nam.

2. Trung Quốc Cận Thế Dư Địa Đồ Thuyết (năm 1908), do La Nhữ Nam biên soạn, đây là một bộ trước tác địa lí học đồ sộ gồm 8 tập 23 quyển. Trong sách ghi rõ cương giới phía nam của Trung Quốc là cực nam của đảo Hải Nam và đều không thấy các đảo Nam Hải ở Trung Quốc Toàn Đồ hay Quảng Đông Địa Đồ trong bộ sách này.

3. Nhị Thập Thế Kỉ Trung Ngoại Đại Địa Đồ (năm 1908). Trong tập bản đồ này, cương giới phía nam của Trung Quốc cũng chỉ tới cực nam đảo Hải Nam. Bản đồ Châu Á trong tập bản đồ này hoàn toàn không có đánh dấu các đảo ở Nam Hải trong khi phần lớn các bản đồ trên thế giới cùng thời kì đều thể hiện các đảo ở Nam Hải. Trái lại, quần đảo Andaman của Ấn Độ và quần đảo Natuna của Nam Hải lại đều có xuất hiện trên các bản đồ này.

4. Quảng Đông Dư Địa Toàn Đồ (năm 1909). Đây là tấm bản đồ vẽ Tây Sa và Đông Sa vào trong lãnh thổ Trung Quốc sớm nhất trong số những bản đồ vào cuối triều Thanh. Tuy nhiên, việc bản đồ không thể hiện hai quần đảo Trung Sa và Nam Sa, cho thấy hai quần đảo này khi ấy vẫn chưa nằm trong tầm ngắm của đế quốc Đại Thanh.

Năm 1911, Trung Hoa Dân Quốc thành lập. Công tác bản đồ của Trung Quốc thời kỳ này cơ bản vẫn vẽ theo hệ bản đồ thời cuối nhà Thanh.

5. Trung Quốc Tân Hưng Đồ (năm 1915). Bản đồ này xuất bản ở Thượng Hải, trong đó cực nam của Trung Quốc vẫn chỉ đến đảo Hải Nam, giống như tình hình năm 1908.

Bản đồ này là tái bản, có thể nghĩ rằng bản đầu tiên của nó cũng như vậy. Qua đó có thể thấy, mặc dù năm 1909 Lý Chuẩn đã tuyên bố chủ quyền khi đến Tây Sa [Hoàng Sa], nhưng khá nhiều người biên vẽ bản đồ, nhất là những người không phải dân Quảng Đông vẫn không hề coi Tây Sa là thuộc lãnh thổ Trung Quốc. Nên cái gọi là “Tây Sa là một bộ phận lãnh thổ của Trung Quốc” chưa hề trở thành nhận thức chung của xã hội.

6. Trung Quốc Tân Hưng Đồ (năm 1917). Trong tấm bản đồ Trung Quốc tân hưng thứ 3 năm 1917, cực nam của Trung Quốc vẫn chỉ là đảo Hải Nam.

7. Trung Hoa Dân Quốc Tân Khu Vực Đồ (năm 1917). Chỉ có quần đảo Tây Sa bị quy nạp vào cương vực của Trung Quốc.

8. Trung Quốc Địa Lý Duyên Cách Đồ: Là tập bản đồ lịch sử xuất bản năm 1922, trong đó tấm bản đồ Dân quốc cũng chỉ vẽ trong khung vuông phụ các đảo Tây Sa.

9. Trung Quốc Tân Hình Thế Đồ (năm 1922). Đây là một phần trong cuốn tập hợp bản đồ sách giáo khoa địa lý tham khảo, về độ chính xác thì không được như bản đồ ở phần trên, nhưng lại nói rõ hơn phạm vi bản đồ Trung Quốc trong con mắt của xã hội. Cũng như hai tấm bản đồ nói trên, cực nam của Trung Quốc vẫn chỉ đến “Tây Sa”.

10. Trung Hoa Triết Loại Phân Tỉnh Đồ (năm 1931). Cực nam Trung Quốc vẫn ở Tây Sa.

11. Trung Hoa Dân Quốc Tân Địa Đồ (Thân báo, năm 1934).Để kỷ niệm 60 năm ra đời, Thân báo tổ chức đợt biên chọn bản đồ có tính chính thống nhất trong thời kỳ Dân Quốc. Trong tập bản đồ này, bản đồ của Trung Quốc vẫn chỉ bao gồm “Tây Sa” và “Đông Sa”.

(PV). Thưa đồng chí Nguyễn Văn Tranh, đồng chí cho biết vấn đề Biển Đông qua một số bản đồ của Trung Quốc từ năm 1935 đến năm 1948 ?

Từ năm 1935, chính phủ Dân quốc bắt đầu tiến trình mở cương giới bản đồ đối với Nam Hải.

1. Trung Quốc Phân Tỉnh Tân Đồ (Thân báo). Đây là bản tái bản tập bản đồ do Thân báo biên tập đã được nói đến ở trên. Trên bản đồ đã thấy xuất hiện các dòng chữ quần đảo Nam Sa và quần đảo Đoàn Sa. Quần đảo Nam Sa khi ấy là quần đảo Trung Sa hiện giờ, còn quần đảo Đoàn Sa khi ấy là chỉ quần đảo Nam Sa hiện giờ.

2. Trung Hoa Dân Quốc Bưu Chính Dư Đồ (năm 1936). Trên tập bản đồ này xuất hiện nhiều đảo ở Nam Hải hơn.

3. Trung Quốc Phân Tỉnh Đồ (năm 1936). Tập bản đồ này cũng có cả quần đảo Trung Sa (Nam Sa) và quần đảo Nam Sa (Đoàn Sa). Nhưng, đảo Hoàng Nham không nằm trong phạm vi quần đảo Trung Sa (Nam Sa). Có thể thấy, vào năm đầu tiên chính phủ Dân quốc mở rộng cương giới bản đồ, đảo Hoàng Nham có phải là một phần của Trung Quốc hay không, điều này vẫn chưa có sự đồng quan điểm trong đội ngũ những người biên tập bản đồ.

4. Trung Quốc Tỉnh Thị Địa Phương Tân Đồ (năm 1939). Đến năm 1939, việc mở rộng cương giới bản đồ đã được sự thừa nhận phổ biến trong các nhà bản đồ học Trung Quốc, những địa điểm không được đánh dấu tên trên bản đồ năm 1936 đã được đánh dấu tên ở đây. Trong tập bản đồ này có riêng một bản đồ về các quần đảo Nam Hải. Điều thú vị là, trên bản đồ này, đảo Hoàng Nham lại không phải là một phần của quần đảo Trung Sa, nó được đánh dấu riêng ra, rồi có thêm dòng chữ “thuộc Trung Quốc”.

5. Hiện Đại Bản Quốc Địa Đồ (năm 1939). Đây là cuốn sách giáo khoa trung học. Phạm vi các đảo Nam Hải cũng tương tự như ở tập bản đồ trên.

6. Trung Quốc Phân Tỉnh Minh Tế Đồ (năm 1940). Cuốn bản đồ này có đường phân giới liền nhau ở Nam Hải vẽ chiểu theo đường bờ biển của các quốc gia Nam Hải khác. Có thể nói, Đường 9 đoạn (Đường 11 đoạn) sau này về cơ bản là tiếp tục dùng những bản đồ này. Xem xét từ cuối đời Thanh tới năm 1940 (tạm chưa nói đến thời kì cổ hơn), Trung Quốc chưa từng thừa hành, mang tính thực chất, bất cứ một lần chủ quyền nào ở quần đảo Nam Sa, ngoài việc mở cương giới trên bản đồ.

7. Trung Quốc Phân Tỉnh Tân Địa Đồ (năm 1947). Trung Quốc đã vẽ Đường 11 đoạn trên bản đồ Nam Hải (về sau nước Cộng hòa sửa lại thành Đường 9 đoạn) đồng thời đặt tên lại cho các đảo ở Nam Hải. Chưa có lý giải về việc vì sao chính phủ Dân quốc lại vẽ đường ranh giới trên bản đồ Nam Hải thành đường đứt khúc. Các tên gọi quần đảo Trung Sa và quần đảo Nam Sa bắt đầu có từ đó. Trên tập bản đồ này, còn có một điểm đáng chú ý là đường hải giới ở mé đông Đài Loan khi ấy không hề bao gồm đảo Điếu Ngư trong đó.

8. Trung Quốc Phân Tỉnh Tân Đồ (Thân báo, 1948). Đây là bản tái bản lần thứ 5 tập Trung Hoa Dân Quốc Tân Địa Đồ của Thân báo. Khác với bản đồ trên, đường phân giới Nam Hải vẫn tiếp tục dùng đường liền từ trước chiến tranh và rất khó xác nhận được đường liền này có trùng với đường đứt đoạn ở bản đồ trên hay không.

(PV). Thưa đồng chí Lê Bá Lộc, thông qua một số bản đồ của Trung Quốc từ thời kỳ nhà Thanh đến thời kỳ Dân Quốc (1948), đồng chí thấy nổi lên vấn đề gì ?

Qua khảo sát 23 tấm bản đồ từ cuối đời Thanh đến năm 1948, có thể rút ra một số kết luận như sau:

1. Trước năm 1908, tất cả các bản đồ Trung Quốc đều không xếp các đảo Nam Hải (VN: Biển Đông) vào phạm vi lãnh thổ Trung Quốc.

2. Từ năm 1909 đến giữa năm 1917, bản đồ Trung Quốc dần dần đưa Tây Sa (VN: Hoàng Sa) và Đông Sa vào lãnh thổ Trung Quốc.

3. Từ năm 1917 đến năm 1934, tất cả các bản đồ Trung Quốc đều đưa Tây Sa và Đông Sa vào lãnh thổ Trung Quốc. Nhưng Trung Sa và Nam Sa (VN: Trường Sa) thì không phải là một phần của Trung Quốc trên bản đồ.

4. Sau khi mở rộng cương giới bản đồ vào năm 1935, tất cả các bản đồ Trung Quốc đều xếp Trung Sa và Nam Sa là một phần của Trung Quốc, phần lớn các bản đồ cũng xếp đảo Hoàng Nham vào lãnh thổ Trung Quốc. Đường phân giới Nam Hải xuất hiện sớm nhất vào năm 1940 trong một số bản đồ.

5. Sau năm 1947, chính phủ Dân quốc cố định đường phân giới Nam Hải dưới hình thức đường đứt đoạn. Kể từ đó, Nam Hải trên bản đồ Trung Quốc liền có hình dạng tương tự như ngày nay (trừ việc nước Cộng hòa đổi Đường 11 đoạn thành 9 đoạn).

Lời kết (PV)

Thưa quý vị và các bạn.

Biển, đảo Việt nam là một bộ phận khăng khít không thể tách rời lãnh thổ và dân tộc Việt Nam. Chúng ta có đầy đủ chứng cứ, cơ sở pháp lý và lịch sử để chứng minh chủ quyền biển đảo. Tuy nhiên vì một số lợi ích trong đó lợi ích kinh tế là cơ bản mà trong thời gian gần đây một số các quốc gia trong khu vực đã công bố chủ quyền và chiếm đóng trái phép trên vùng biển, đảo của Việt Nam. Trước tình hình đó chúng ta phải kiên quyết đấu tranh để bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của tổ quốc.

Khoa Lý luận Cơ sở

Video

Phóng sự kỷ niệm 60 năm thành lập trường Chương trình lý luận và cuộc sống tháng 11 năm 2017 Chương trình lý luận và cuộc sống tháng 10 năm 2017 Chương trình lý luận và cuộc sống tháng 9 năm 2017 Chương trình Lý luận và cuộc sống tháng 7 năm 2017
Xem tất cả »

Hình ảnh