Chuyên mục Lý luận và cuộc sống tháng 6 năm 2013

Ngày đăng: 07/07/2014

Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời phù hợp với xu thế phát triển khách quan của lịch sử. Vì thế Đảng ta không ngừng bổ sung và hoàn thiện quá trình nhận thức và ngày càng làm sáng tỏ hơn về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Chủ đề:  “Sự phát triển nhận thức của Đảng ta về con đường đi lên chủ nghĩa xã hộiở Việt Nam từ 1986 đến nay”

I. Lời dẫn (Phóng viên)

Kính thưa các đồng chí và các bạn. 

Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời phù hợp với xu thế phát triển khách quan của lịch sử. Vì thế Đảng ta không ngừng bổ sung và hoàn thiện quá trình nhận thức và ngày càng làm sáng tỏ hơn về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Nhằm nâng cao nhận thức lý luận chính trị. Hôm nay Trường Chính trị phối hợp với Đài truyền hình tỉnh Vĩnh Phúc tổ chức buổi toạ đàm với chủ đề: “sự phát triển nhận thức của Đảng ta về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Namtừ 1986 đến nay”

Tham dự buổi toạ đàm, tôi xin trân trọng giới thiệu có:

            - Đồng chí Lê Bá Lộc - Trưởng Khoa Lý luận cơ sở trường Chính trị tỉnh Vĩnh Phúc;

            - Đồng chí Trần Viết Dương – Giảng viên Khoa Lý luận cơ sở trường Chính trị tỉnh Vĩnh Phúc;

Xin cảm ơn các đồng chí đã dành thời gian tham gia buổi toạ đàm hôm nay!

II. NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ LÝ LUẬN CUỘC SỐNG

Câu hỏi 1(Phóng viên hỏi): Để mở đầu cuộc tọa đàm hôm nay, xin hỏi đồng chí Lê Bá Lộc:

Đồng chí hãy cho biết sự phát triển nhận thức của Đảng ta về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam qua các văn kiện từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X ?

Trả lời

Đại hội VI

   Từ nhận thức và rút kinh nghiệm của Đảng ta về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong các văn kiện IV và V. Nhìn chung đây vẫn là thời kỳ sử dụng mô hình kinh tế cũ: Cơ chế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp. Những nhược điểm, khuyết điểm của mô hình này trở nên cản trở lớn đối với sự phát triển kinh tế xã hội, làm cho khủng hoảng kinh tế xã hội trở nên gay gắt hơn. Trong bối cảnh nói trên, Đại hội VI của Đảng đã được tiến hành. Đại hội đã thảo luận và thông qua đường lối đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thể hiện trên các nội dung như sau:

   - Thứ nhất: Đã có thái độ nhìn thẳng vào sự thật để đánh giá đúng tình hình đất nước sau 10 năm cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, nhất là các yếu kém và nguyên nhân của nó. Đại hội cho rằng những sai lầm là nghiêm trọng và kéo dài về chủ trương, chính sách, sai lầm về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện.

   - Thứ hai: Rút ra những bài học kinh nghiệm cơ bản có ý nghĩa chỉ đạo đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.

   - Thứ ba: trên cơ sở xác định phải quán triệt và thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, Đại hội đã nêu lên đường lối đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, cụ thể là:

   + Về mục tiêu, nhiệm vụ: Đại hội chủ trương đổi mới toàn diện về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá, đối ngoại, nhưng chủ yếu là kinh tế – chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự quản lý của nhà nước.

   Đường lối đổi mới kinh tế của Đảng chính là tư duy mới về 3 vấn đề cơ bản: Bố trí lại cơ cấu sản xuất, điều chỉnh lớn cơ cấu đầu tư, trước mắt tập trung cho 3 chương trình kinh tế lớn; Xây dựng và củng cố QHSX xã hội chủ nghĩa, sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế; Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế , chuyển sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, thực hiện một giá.

   +Về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội: Coi thời kỳ qúa độ lên chủ nghĩa xã hội là một quá trình lâu dài, gồm nhiều thời kỳ, giai đoạn kế tiếp nhau, mỗi thời kỳ, giai đoạn có mục tiêu, bước đi, quy mô, tốc độ, biện pháp thích hợp, khác nhau từ thấp đến cao, không được nôn nóng duy ý chí đốt cháy giai đoạn mà phải theo đúng quy luật từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa.

   Theo tư duy đó, Đại hội xác định nước ta đang ở chặng đường đầu, giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ. Coi đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, với những hình thức và bước đi thích hợp, làm cho QHSX phù hợp với tính chất và trình độ của LLSX, luôn có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của LLSX. Trước mắt là củng cố và phát triển kinh tế xã hội chủ nghĩa.

   Để khẳng định một điều, quan điểm của Đảng ta về con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội về công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.Đảng và nhân dân ta  đã không ngừng vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong cách mạng Việt Nam. Đó cũng là quá trình không ngừng tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận để vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội trở thành hiện thực. Trong đó phải khẳng định những kết quả đã làm được của Đảng ta trong văn kiện Đại hội VI này.

Đại hội VII

 Cương lĩnh chính trị là văn kiện cơ bản, chỉ rõ mục tiêu, đường lối, nhiệm vụ, phương pháp cách mạng trong một giai đoạn nhất định. Cương lĩnh xây dựng đất nước 1991 nêu ra Sáu đặc trưng của Chủ nghĩa xã hội:

   + Một là, nhân dân lao động làm chủ.

   + Hai là, có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu.

   + Ba là, có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

   + Bốn là, con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân.

   + Năm là, các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ.

   + Sáu là, có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới.

   Sáu đặc trưng trên gắn bó hữu cơ với nhau trong một chỉnh thể thống nhất, vừa là tiền đề, vừa là kết quả của nhau, được hoàn thiện dần từng bước trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội.

*Bảy phương hướng:

   Một là, “xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, lấy liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân, giữ nghiêm kỷ cương xã hội, chuyên chính với mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân''3.

   Hai là, “phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hoá đất nước theo hướng hiện đại gắn liền với phát triển một nền nông nghiệp toàn diện là nhiệm vụ trung tâm nhằm từng bước xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, không ngừng nâng cao năng suất lao động xã hội và cải thiện đời sống nhân dân''4

   Ba là, ''phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất, thiết lập từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa từ thấp đến cao với sự đa dạng về hình thức sở hữu. Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân. Thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu”5.

   Bốn là, ''tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng và văn hoá làm cho thế giới quan Mác - Lênin và tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh giữ vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội. Kế thừa và phát huy những truyền thống văn hoá tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nước, tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực và thẩm mỹ ngày càng cao. Chống tư tưởng, văn hoá phản tiến bộ, trái với những truyền thống tốt đẹp của dân tộc và những giá trị cao quý của loài người, trái với phương hướng đi lên chủ nghĩa xã hội''6

   Năm là, thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, củng cố và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất, tập hợp mọi lực lượng phấn đấu vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh. Thực hiện chính sách đối ngoại hoà bình, hợp tác và hữu nghị với tất cả các nước; trung thành với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, đoàn kết với các nước xã hội chủ nghĩa, với tất cả các lực lượng đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới''7.

   Sáu là, ''xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc là hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam. Trong khi đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng đất nước, nhân dân ta luôn luôn nâng cao cảnh giác, củng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Tổ quốc và các thành quả cách mạng''8.

   Bảy là, ''xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức ngang tầm nhiệm vụ, bảo đảm cho Đảng làm tròn trách nhiệm lãnh đạo sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta''9.

        Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là một quá trình lâu dài, phải qua nhiều chặng đường. Mục tiêu của chặng đường đầu là thông qua đổi mới toàn diện, xã hội đạt tới trạng thái ổn định vững chắc, tạo thế phát triển nhanh ở chặng sau.

   Đảng cộng sản Việt Nam đã có những thành tựu nổi bật và độc đáo trong tư duy về con đường cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Nhận thức về con đường quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta được Đảng ta không ngừng bổ sung, phát triển và làm sâu sắc hơn trên cơ sở tổng kết về mặt thực tiễn, đúc rút về mặt lý luận qua mỗi kỳ Đại hội Đảng.

           

Đại hội VIII

Đại hội lần thứ VIII của Đảng cộng sản Việt Nam họp vào thời điểm lịch sử có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Công cuộc đổi mới toàn diện mở đầu từ Đại hội VI đã trải qua gần 10 năm. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII có nhiệm vụ kiểm điểm kết quả 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VII, tổng kết 10 năm đổi mới, đề ra những mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ của toàn Đảng và toàn dân ta trong thời kỳ mới của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc mà nhiệm vụ trung tâm là đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

          Đại hội VIII của Đảng đã khẳng định: “Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày ngày càng được xác định rõ hơn”. Điều đó được thể hiện ở 5 vấn đề sau:

(Báo cáo của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII về các văn kiện trình Đại hội VIII do đồng chí Đỗ Mười, Tổng Bí thư trình bày ngày 28-6-1996).

 - Thứ nhấtvề cơ sở lý luận, Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

   Khẳng định lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động là bước phát triển quan trọng trong nhận thức và tư duy lý luận của Đảng ta.

   Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học và công nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại.

   - Thứ hai, mục tiêu chung về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hòa các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế, của toàn xã hội.

   - Thứ ba, về nền kinh tế, Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước. Nhà nước ta là Nhà nước xã hội chủ nghĩa, quản lý nền kinh tế bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, sử dụng cơ chế thị trường, áp dụng các hình thức kinh tế và phương pháp quản lý của kinh tế thị trường để kích thích sản xuất, giải phóng sức sản xuất, phát huy mặt tích cực, hạn chế và khắc phục mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động, của toàn thể nhân dân.

   Thứ tư, Chế độ sở hữu công cộng(công hữu) về tư liệu sản xuất chủ yếu từng bước được xác lập và sẽ chiếm ưu thế tuyệt đối khi chủ nghĩa xã hội được xây dựng xong về cơ bản. Xây dựng chế độ đó là một quá trình phát triển kinh tế - xã hội lâu dài qua nhiều bước, nhiều hình thức từ thấp đến cao. Phải từ thực tiễn tìm tòi, thử nghiệm để xây dựng chế độ sở hữu công cộng nói riêng và quan hệ sản xuất mới nói chung với bước đi vững chắc. Tiêu chuẩn căn bản để đánh giá hiệu quả xây dựng quan hệ sản xuất theo định hướng xã hội chủ nghĩa là thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân, thực hiện công bằng xã hội.

   - Thứ năm, về phát triển văn hóa và giáo dục, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của nhân dân, nâng cao dân trí, giáo dục và đào tạo con người, xây dựng và phát triển nguồn nhân lực của đất nước.

       Như vậy, so với các kì Đại hội trước đó, Văn kiện Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ VIII đã có những nhận thức con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng được xác định rõ hơn. Đây là cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc tiếp tục phát triển nhận thức, tư duy của Đảng trong các kỳ Đại hội Đảng tiếp theo.

Đại Hội IX

   Đại hội IX của Đảng khẳng định chủ trương “thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”

   - Mục đích của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. Phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp trên cả ba mặt sở hữu, quản lý và phân phối. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc.

   - Cơ chế quản lý Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước. Nhà nước ta là Nhà nước xã hội chủ nghĩa, quản lý nền kinh tế bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, sử dụng cơ chế thị trường, áp dụng các hình thức kinh tế và phương pháp quản lý của kinh tế thị trường để kích thích sản xuất, giải phóng sức sản xuất, phát huy mặt tích cực, hạn chế và khắc phục mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động, của toàn thể nhân dân.

   - Về phân phối kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời phân phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất, kinh doanh và thông qua phúc lợi xã hội.

Chủ trương xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thể hiện tư duy, quan niệm của Đảng ta về sự phù hợp giữaquan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Đó là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng diễn ra từ ngày 18 đến 25-4- 2006 tại Thủ đô Hà Nội đánh dấu 20 năm đổi mới đất nước. Đại hội đã đánh giá, tổng kết những thành tựu đạt được và hạn chế còn tồn tại trong quá trình đổi mới toàn diện đất nước.Qua đó Đảng ta đã nhận thức một cách sâu sắc, đầy đủ và ngày càng làm sáng tỏ lý luận về mô hình đi lên CNXH ở nước ta. So với các kỳ đại hội trước, bên cạnh việc tiếp tục giữ vững mục tiêu, kiên trì những định hướng, lý tưởng mà Đảng ta đã lựa chọn ngay từ đầu đó là: Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Thì đại hội X có những bổ sung, điều chỉnh về mô hình CNXH ở nước ta để phù hợp với những yêu cầu, đòi hỏi của thời đại. Những thay đổi trong nhận thức của Đảng  về đặc trưng của CNXH đó là:

 - Thứ nhất, đại hội X đã bổ sung từ 6 đặc trưng của CNXH đã được nêu ở các đại hội VII, VIII, IX lên thành 8 đặc trưng cơ bản của CNXH ( kể tên 8 đặc trưng)

- Thứ hai, trong những đặc trưng về CNXH, cũng có những điều chỉnh bổ sung tại Đại hội X so với các kỳ đại hội trước đó cụ thể:

Một là: Đại hội X điều chỉnh: “Do nhân dân làm chủ” ( Đại hội VII nêu “ Do nhân dân lao động làm chủ”. Sự điều chỉnh này giúp quy tụ được sức mạnh của toàn dân tộc nhằm thực hiện mục tiêu đề ra, và đúng với tư tưởng Hồ Chí Minh hơn “ Chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước”.

Hai là, Đại hôi X nêu: “ Có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên LLSX hiện đại và QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX”.(Đại hội VII nêu: “ Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên LLSX hiện đại và chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu”.

Việt Nam đang trong quá trình xây dựng CNXH do đó, chế độ công hữu về những tư liệu sản xuất chủ yếu vẫn còn tồn tại trong suốt thời kỳ quá độ. Đó là sự kế thừa bổ sung, phát triển và làm sáng tỏ hơn, phù hợp với thực tế hơn.

-  Ba là, nếu như tại Đại hội VII nêu “ Con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột bất công; làm theo năng lực, hưởng theo lao động; có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc; có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân”, thì tại Đại hội X được điều chỉnh lại “ con người được giải phóng khỏi áp bức bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển toàn diện”. Sự điều chỉnh này mang tính khái quát hơn, ngắn gọn hơn, rõ ràng hơn và súc tích hơn. Đại hội X không sử dụng từ “ bóc lột” trong đặc trưng này vì: Mục tiêu xây dựng CNXH ở nước ta trước hết không thể chấp nhận chế độ người bóc lột người. Mặt khác, Đảng ta thừa nhận trên thực tế còn hiện tượng bóc lột, có sự phân hóa giàu nghèo, nhưng không phân hóa xã hội thành hai cực đối lập. Ngoài ra, Đảng ta cũng thừa nhận sự tồn tại lâu dài các hình thức mướn lao động, nhưng trong khuôn khổ nhất định, vì trong CNXH ta chấp nhận nhiều hình thức  sở hữu và nhiều thành phần kinh tế.

-Bốn là, Nếu như tại đại hội VII, Đảng ta nêu“ Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ”. Thì đến đại hội IX, Đảng ta nêu lên “ Phát huy sức mạnh của cả cộng đồng dân tộc”, trong khi đại hội VIII chỉ nêu “phát huy sức mạnh của cả cộng đồng”. Đến Đại hội X, Đảng ta có sự điều chỉnh một cách đúng đắn “Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tượng trợ, giúp nhau cùng tiến bộ”. Quan điểm này khẳng định rõ ràng hơn cách mạng là sự nghiệp của toàn thể dân tộc Việt Nam, cả người dân Việt Nam sống ở trong nước và cả bộ phận người dân Việt Nam sinh sống ở nuớc ngoài( chứ không phải chỉ có trong nước như đại hội VII đã nêu), điều này cũng là điểm cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Năm là,  “ Có nhà nuớc pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”. Đây là đặc trưng mới được bổ sung từ tổng kết thực tiễn về quá trình xây dựng CNXH ở nước ta. Tư tưởng về xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN chính thức được các Đại hội VIII và IX nêu ra. Đại hội X tiếp tục kế thừa và đưa vào một trong những đặc trưng mà nhân dân ta cần xây dựng.

Sáu là, đặc trưng có tính bao trùm nhất, khái quát nhất, là sự khác biệt về chất so với các chế độ xã hội trước đó là: “ Xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng là xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh”. Điều này cũng đúng với tư tưởng của chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm kết nối cộng đồng dân tộc Việt Nam theo tinh thần khép lại quá khứ, cùng nhau hướng về tương lai một nước Việt Nam, “ dân giàu, nước mạnh”, “ dân cường, nước thịnh”

   Có thể nói, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội từ ngày lập nước đến nay của Đảng và nhân dân ta là quá trình không ngừng vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong cách mạng Việt Nam. Đó cũng là quá trình không ngừng tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận để vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội trong hiện thực, vừa hoàn thiện những đặc trưng xã hội xã hội chủ nghĩa về mặt lý luận của Đảng qua mười một kỳ đại hội.

Câu hỏi 2(Phóng viên hỏi)

Đồng chí cho biết sự phát triển nhận thức của Đảng ta về mô hình chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội tại văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI ?

- Thứ nhất. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) chỉ rõ: “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”. Đó là những đặc trưng cơ bản của xã hội XHCN ở Việt Nam mà Đại hội XI đã đề ra.

(ĐCSVN, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb.CTQG-ST, HN, Tr. 70).

            - Thứ hai. Đảng ta luôn xác định: Đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là phù hợp với quy luật khách quan của lịch sử, phù hợp với quy luật của cách mạng Việt Nam, phù hợp với mục tiêu lý tưởng của dân tộc được lịch sử lựa chọn. Đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam được thực tiễn kiểm nghiệm bằng thành tựu của hơn 25 năm đổi mới. Đi lên chủ nghĩa xã hội là sự kiên định nhất quán của ĐCS Việt Nam qua các kỳ đại hội.

            - Thứ ba. Muốn xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội thì chúng ta cần xác định rõ lộ trình đi lên chủ nghĩa xã hội (mục tiêu; phương pháp, cách thức, bước đi phù hợp với lý luận và điều kiện thực tế của Quốc gia, dân tộc. Lộ trình đó chính là con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở ViệtNam hiện nay.

- Thứ tư. Đảng ta đã xác định hiện nay ViệtNam đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN với tư cách một chế độ xã hội. “bỏ qua” ở đây chính là bỏ qua sự thống trị của QHSX TBCN, kiến trúc thượng tầng tư sản, đồng thời tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học và công nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại. Đây chính là quá trình rút ngắn trên con đường đi lên CNXH ở Việt Nam hiện nay.

 Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (cương lĩnh bổ sung phát triển 2011) được thông qua tại đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã chỉ rõ 8 phương hướng cơ bản trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam là: 

1. Đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường.

2. Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.

3. Xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.

4. Bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.

5. Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế.

6. Xây dựng nền dân chủ XHCN, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất.

7. Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân.

8. Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

(ĐCSVN, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG-ST, HN, Tr. 72).

Hiện nay trên con đường đi lên CNXH, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta quyết tâm đồng thuận một lòng xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, dân chủ, giàu mạnh và văn minh, “phấn đấu đến 2020 nước ta có nền công nghiệp phát triển theo hướng hiện đại và đến giữa TK XXI nước ta có nền công nghiệp hiện đại theo định hướng XHCN”.

Khoa Lý luận cơ sở

Video

Chương trình Lý luận và cuộc sống tháng 12 năm 2017 Phóng sự kỷ niệm 60 năm thành lập trường Chương trình lý luận và cuộc sống tháng 11 năm 2017 Chương trình lý luận và cuộc sống tháng 10 năm 2017 Chương trình lý luận và cuộc sống tháng 9 năm 2017
Xem tất cả »

Hình ảnh