PHẦN ĐỊA LÝ VĨNH PHÚC - Chương 2: ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN

Ngày đăng: 10/09/2006

I - Lịch sử hình thành lãnh thổ:

Vĩnh Phúc là vùng đất có cấu tạo địa chất lâu dài và phức tạp. Lịch sử hình thành lãnh thổ tự nhiên Vĩnh Phúc gắn liền với quá trình hình thành vùng núi, trung du và đồng bằng Bắc bộ.

Vĩnh Phúc với hình thế như ngày nay là kết quả của nhiều hoạt động kiến tạo nội sinh và những hoạt động ngoại sinh. Địa tầng tỉnh Vĩnh Phúc bao gồm các thành tạo trầm tích, trầm tích biến chất, trầm tích phun trào với chiều dày hàng chục km và có tuổi theo thứ tự già đến trẻ như sau:

* Đại nguyên sinh: cách ngày nay chừng 600 đến 700 triệu năm. Đại diện có các đá biến chất cao như Gơ-nai, amphibolit, quaczit và đá hoa phân bố chủ yếu ở các vùng Lập Thạch (bao quanh núi Sáng Sơn); vùng Vĩnh Yên (bao gồm cả huyện Tam Dương, Bình Xuyên chạy dài từ quốc lộ số 2 đến chân dãy núi Tam Đảo); vùng Bồ Sao, Yên Lập thuộc Vĩnh Tường…

* Giới cổ sinh: có các đá thuộc hệ Đề-vôn (cách đây khoảng 400 triệu năm) phân bố ở vùng Xuân Hoà- Lập Thạch diện tích vài km2. Đất đá giai đoạn này gồm các loại phiến sét, sét vôi-silic, bột kết và cát kết phân phiến màu xám đen, nâu đen.

* Giới Trung sinh: có các đá thuộc hệ Triat thống trung và hệ tầng trầm tích chứa than Vân Lãng tập trung ở dãy núi cao Tam Đảo và vùng trũng ven rìa trước núi ở các xã Đại Đình, Đạo Trù, Tam Quan… Thành phần đá gồm có đá phún xuất riolit, đaxit… Các đá hệ tầng chứa than có bột kết, sét kết, sét than và đá vôi silic có chiều dày tới hàng km, tuổi tuyệt đối có thể cách ngày nay tới 230 triệu năm.

* Giới Tân sinh: Các đá thuộc giới Tân sinh phân bố rộng rãi ven bờ sông Lô, sông Hồng, sông Phó Đáy. Nó bao gồm toàn bộ vùng ven sông và đồng bằng từ Vĩnh Tường đến Mê Linh. Đất đá được xếp vào giới này có tuổi trẻ nhất (cách đây khoảng 67 triệu năm và cho đến bây giờ vẫn đang tiếp tục thành tạo). Đất đá ở lớp dưới cùng là cuội kết, cát kết, trên cùng là sét, cát, than bùn và mùn cây cấu tạo nên đồng bằng châu thổ. Các loại đất sét và phù sa có chiều dày tới hàng chục mét.

II- Địa hình tỉnh Vĩnh Phúc

Địa hình Vĩnh Phúc được tạo thành là kết quả hoạt động tổng hợp từ các quá trình địa chất nội sinh và ngoại sinh cùng với tác động của con người như: đắp đê, đắp đập, phá rừng làm nương rẫy, khai thác khoáng sản...

Địa hình Vĩnh Phúc thể hiện khá rõ những nét chung của địa hình Việt Nam như: hướng chủ yếu của địa hình là hướng Tây Bắc - Đông Nam; địa hình có sự phân hoá theo độ cao và độ cao trung bình giảm dần từ Tây sang Đông. Dựa vào sự phân hoá theo độ cao này ta có thể chia địa hình Vĩnh Phúc thành 3 loại địa hình chính: địa hình miền núi, địa hình vùng đồi và địa hình đồng bằng.

2.1. Địa hình miền núi:

Từ nguồn gốc, quá trình hình thành và căn cứ vào độ cao của địa hình, có thể chia địa hình miền núi Vĩnh Phúc làm ba loại:

2.1.1. Địa hình núi cao: điển hình là dãy núi Tam Đảo hình thành liên quan đến sự hoạt động của núi lửa thuộc hệ Triat thống trung ( cách ngày nay khoảng 145 triệu năm) với chiều dài hơn 50 Km, trong đó có nhiều đỉnh cao trên 1000 m (cao nhất là đỉnh núi Giữa 1592m, đỉnh Thạch Bàn 1388m, đỉnh Thiên Thị 1376m, đỉnh Phù Nghĩa 1300 m so với mực nước biển). Trong địa phận tỉnh Vĩnh Phúc dãy Tam Đảo kéo dài từ xã Đạo Trù (Tam Đảo) - điểm cực Bắc của tỉnh đến xã Ngọc Thanh (Phúc Yên)- điểm cực Đông của tỉnh với chiều dài trên 30 km.  Nhìn trên bản đồ ta có thể thấy địa hình núi cao phân bố chủ yếu ở huyện Tam Đảo và huyện Lập Thạch.

Do con người khai thác rừng mạnh mẽ nên các hoạt động ngoại sinh như xâm thực và bào mòn đang diễn ra mãnh liệt làm cho địa hình dãy Tam Đảo bị phân cắt ngày càng mạnh.

2.1.2. Địa hình núi thấp:

Ta có thể gặp loại địa hình núi thấp trên những vùng của Lập Thạch, điển hình là núi Sáng Sơn cao 633m. Loại địa hình này hình thành cách đây khoảng 300 triệu năm do các hoạt động kiến tạo địa chất. Trải qua thời gian cùng với những tác động của yếu tố ngoại lực nên những núi này bị xâm thực, bào mòn hình thành nên địa hình núi có đỉnh tròn, sườn thoải.

2.1.3. Địa hình núi sót:

Gồm núi Đinh, núi Trống, núi Thanh Tước nằm theo một trục trên địa bàn thị xã Vĩnh Yên, huyện Bình Xuyên và thị xã Phúc Yên. Loại địa hình núi này thường có độ cao trung bình khoảng 100 m đến 300m.

2.2. Địa hình vùng đồi:

ở Vĩnh Phúc có nhiều đồi nhưng phân bố tập trung nhất là là ở hai huyện Lập Thạch và Tam Dương. Các huyện Bình Xuyên, Phúc Yên, Vĩnh Yên đồi chiếm tới một nửa diện tích. Các huyện đồng bằng như Vĩnh Tường, Yên Lạc, còn sót lại một số ít đồi gò như đồi Me, gò Đồng Đậu. Đồi ở Vĩnh Phúc như hình bát úp (đỉnh tròn, sườn thoải), kích thước không lớn, có dạng vòm, đường nét mềm mại. Đồi ở vùng đồng bằng chỉ cao từ 20m đến 50m, ở  vùng trung du cao từ 50m đến 200m.

Dựa vào cơ chế thành tạo ta có thể chia đồi ở Vĩnh Phúc ra làm 3 loại:

2.2.1. Đồi xâm thực bóc mòn: Hình thành do các vận động kiến tạo địa chất nhưng trải qua thời gian chịu sự tác động của các yếu tố ngoại lực (mưa, gió, băng tan…) cùng với sự phong hoá của các lớp đất đá đã làm cho bề mặt bị bóc mòn. Địa hình loại này phân bố chủ yếu ở khu vực Vĩnh Yên, Tam Dương, và Phúc Yên.

2.2.2. Đồi tích tụ: Được hình thành do quá trình tích tụ và xâm thực, phân bố ở các cửa suối lớn trong chân núi Tam Đảo như các suối ở Đạo Trù (Tam Đảo), Tam Quan, Hợp Châu (Tam Dương), Minh Quang, Thanh Lanh (Bình Xuyên)… Do tích tụ nên dạng đồi này có diện tích nhỏ, cấu tạo chủ yếu là cuội, cát, sỏi, bột sét…Các đồi thường bị dòng nước ăn vào một bên sườn hoặc cả hai bên nếu ở giữa dòng chảy.

2.2.3. Đồi tích tụ bóc mòn: Là những đồi được hình thành trong quá trình tích tụ nhưng đã bị bóc mòn. Dạng đồi này phổ biến ở ven sông Lô từ Đồng Thịnh, Cao Phong đến Văn Quán, Xuân Lôi, Triệu Đề (Lập Thạch). Đồi có dạng bát úp hoặc kéo dài cấu tạo bởi các đá cát kết, sỏi kết, cuội, sỏi, sét…

2.3. Địa hình đồng bằng:

Địa hình đồng bằng có bề mặt tương đối bằng phẳng, chiếm diện tích đáng kể (khoảng 2/5 diện tích toàn tỉnh). Căn cứ vào độ cao tuyệt đối, hình thái, điều kiện hình thành có thể chia đồng bằng Vĩnh Phúc làm ba loại: Đồng bằng châu thổ, đồng bằng trước núi và các thung lũng, bãi bồi, đầm.

2.3.1. Đồng bằng châu thổ:

Là loại đồng bằng tích tụ liên quan đến quá trình lắng đọng trầm tích tại các cửa sông lớn. Đồng bằng châu thổ Vĩnh Phúc phát triển từ sự bồi tụ của các dòng sông Lô, sông Hồng, sông Phó Đáy và của hệ thống sông suối ngắn từ dãy núi Tam Đảo chảy ra.

Diện tích đồng bằng phân bố trên toàn bộ huyện Yên Lạc, hầu hết huyện Vĩnh Tường, chiếm diện tích lớn ở các huyện Tam Dương, Bình Xuyên, Mê Linh. Đồng bằng có bề mặt tương đối bằng phẳng, hơi nghiêng về phía sông Hồng và phía Nam huyện Yên Lạc, Mê Linh.

2.3.2. Đồng bằng trước núi (đồng bằng giới hạn):

Được hình thành do sự phá huỷ lâu dài của vùng núi, do sự bóc mòn, xâm thực của nước mặt, nước ngầm và nước sông băng (thời kỳ băng hà). Chính những yếu tố ngoại lực này đã biến vùng núi cao thành vùng núi thấp, dần dần thành vùng đồi và sau đó thành vùng đồng bằng có giới hạn (do bao quanh nó vẫn là đồi núi).

Loại đồng bằng này thường có diện tích không lớn và có độ cao tuyệt đối tăng dần từ ngoài vào trung tâm. Đó là các đồng bằng trước núi Sáng (Lập Thạch), trước núi vùng Đạo Trù (Tam Đảo), đồng bằng khu vực Quang Hà, Minh Quang, Thanh Lanh, Thanh Lộc… Bề mặt đồng bằng thường có dạng gợn sóng và nếu so với đồng bằng châu thổ thì loại đồng bằng này kém màu mỡ hơn.

2.3.3. Các thung lũng, bãi bồi sông:

* Thung lũng sông:

Thung lũng sông ở Vĩnh Phúc là một dạng địa hình âm, chiều dài gấp nhiều lần chiều rộng, được hình thành chủ yếu do tác động xâm thực của dòng chảy.

Thung lũng sông Lô chỉ tính ở bờ trái gồm lòng sông và sườn thung lũng. Thung lũng có nhiều bãi bồi xen kẽ nên sườn thung lũng thoải. Cấu tạo sườn thung lũng là các thềm sông. Thành phần vật chất của thung lũng là cát, sét, sỏi cuội, thạch anh và silic. Đây cũng chính là nguồn tài nguyên đáng kể sử dụng làm vật liệu xây dựng, đáp ứng nhu cầu xây dựng trong tỉnh và các tỉnh, thành phố lân cận.

Thung lũng sông Hồng có chiều dài hơn 40 km. Thung lũng sông Hồng bằng hơn, rộng hơn thung lũng sông Lô. Chiều rộng từ bờ đê quai của các xã An Tường, Cao Đại ra giữa sông có chỗ đến 300m, trung bình là 150m đến 200m.

Thung lũng sông Hồng có nhiều bãi bồi (do nước sông có hàm lượng phù sa cao). Đây là nguồn phù sa màu mỡ cung cấp cho các tỉnh đồng bằng sông Hồng phục vụ tích cực cho sản xuất nông nghiệp đồng thời góp phần quan trọng trong việc mở rộng vùng châu thổ.

* Bãi bồi sông:

Chủ yếu hình thành và phân bố nhiều ở các sông lớn như sông Hồng, sông Lô, sông Phó Đáy. Bãi bồi sông rộng, hẹp phụ thuộc vào các yếu tố như: dòng chảy, lưu lượng nước, hàm lượng phù sa…  Dọc các thung lũng của ba con sông chính của tỉnh có tới vài chục bãi bồi lớn nhỏ. Có bãi chiều rộng hàng ngàn mét, dài vài km (ở Vĩnh Tường, Yên Lạc). Bãi bồi sông Lô ở vùng Đức Bác, Sơn Đông (Lập Thạch) rộng vài trăm mét và dài hàng km. Trong điều kiện bình thường, đặc biệt là vào mùa cạn bãi bồi lộ ra trên mặt nước sông và người dân có thể tận dụng để trồng một số loại cây vụ đông. Mùa mưa, nước sông lên bãi bồi bị ngập một phần hoặc toàn bộ trong nước

III- Khí hậu và sự phân hoá khí hậu trên địa bàn tỉnh:

Khí hậu là một trong những thành phần quan trọng nhất của thiên nhiên Vĩnh Phúc. Yếu tố khí hậu có ảnh hưởng lớn tới sản xuất và đời sống của cư dân Vĩnh Phúc. Khí hậu Vĩnh Phúc mang những nét chung của miền Bắc và Đông Bắc Bắc Bộ đồng thời có những nét riêng của của một vùng chuyển tiếp giữa miền núi và đồng bằng.

3.1. Đặc điểm chung của khí hậu Vĩnh Phúc:

Khí hậu Vĩnh Phúc mang đặc điểm chung của khí hậu miền Bắc nước ta đó là: nhiệt đới gió mùa ẩm. Đặc điểm nhiệt đới gió mùa ẩm được quy định bởi các yếu tố vị trí địa lý, quy mô lãnh thổ và địa hình của tỉnh. Đặc điểm này được thể hiện qua những số liệu cụ thể về số giờ nắng trung bình, độ ẩm trung bình, lượng mưa trung bình và nhiệt độ trung bình trong năm thông qua việc quan trắc tại hai trạm khí tượng chính là trạm khí tượng Vĩnh Yên và trạm khí tượng Tam Đảo.

Trạm khí tượng Vĩnh Yên (vĩ độ 21018’ Bắc, kinh độ 105036’ Đông, độ cao tuyệt đối là 10 m) và trạm khí tượng Tam Đảo (21024’ Bắc và 105038’ Đông, nằm ở độ cao tuyệt đối là 897 m) thể hiện cụ thể và đặc trưng của khí hậu vùng đồng bằng và vùng núi Vĩnh Phúc. Thông qua việc so sánh các số liệu đo được từ hai trạm khí tượng này ta còn nhận thấy một đặc điểm nữa của khí hậu Vĩnh Phúc đó là: khí hậu Vĩnh Phúc có sự phân hoá theo mùa, theo miền và theo độ cao.

Trong năm, Vĩnh Phúc có hai lần mặt trời chuyển động biểu kiến lên thiên đỉnh vào tháng 6 làm cho lượng nhiệt nhận được nhiều hơn các thời gian khác, gây lượng mưa đột biến vào khoảng tháng 6, tháng 7.

3.2. Sự phân hoá khí hậu ở Vĩnh Phúc:

3.2.1. Phân hoá theo mùa:

            Cũng giống như khí hậu của miền Bắc nước ta, khí hậu Vĩnh Phúc phân làm hai mùa rõ rệt: mùa nóng và mùa lạnh

* Vào mùa lạnh (mùa đông, mùa khô):

            - Khối không khí NPc (gió mùa Đông Bắc) có tính chất lạnh, khô thổi từ  phương  Bắc đến,  gây ra  một mùa đông đặc  trưng, nhiệt  độ xuống thấp (ảnh hưởng đến nước ta từ tháng 11 đến tháng 4).

            Về cuối mùa đông(từ tháng 01 đến tháng 3), khối khí NPc di chuyển qua biển trước khi ảnh hưởng đến nước ta nên có tính chất lạnh, ẩm gây ra hiện tượng mưa phùn ở miền Bắc nói chung và Vĩnh Phúc nói riêng.

            Vào mùa này (từ tháng 11 đến tháng 4), nhiệt độ trung bình đo được tại Vĩnh Yên (năm 2004) là 20,30C, đo được tại Tam Đảo là 14,80C. Tổng số giờ nắng đo được tại Vĩnh Yên (năm 2004) là 580,1 giờ (bằng 36,8% cả năm); độ ẩm trung bình đo tại Vĩnh Yên (2004) là 81,5; tổng lượng mưa đo được từ tháng 10 đến tháng 3 (2004) là 142 mm.

* Vào mùa nóng (mùa hạ, mùa mưa): chịu ảnh hưởng của khối khí Tây Nam (TBg) thổi từ Vịnh Bengan tới có tính chất nóng và ẩm, gây mưa nhiều. Do ảnh hưởng của hạ áp Bắc Bộ, khi ảnh hưởng đến  miền Bắc khối khí Tây Nam chuyển hướng Đông, Đông Nam (gió nồm). Về đầu mùa hạ có một khoảng thời gian ngắn chịu ảnh hưởng không liên tục của gió phơn Tây Nam (gió Lào).

            Vào mùa này, nhiệt độ trung bình cao (nhiệt độ trung bình đo được từ tháng 5 đến tháng 10  năm 2004 tại trạm khí tượng Vĩnh Yên là 27,90C; tại trạm khí tượng Tam Đảo là 21,80C). Tháng có nhiệt độ cao nhất đo được tại Vĩnh Yên là tháng 6 (29,40C). Biên độ dao động nhiệt trong mùa nóng là 3,60C. Số giờ nắng từ tháng 5 đến tháng 10 là 997,5 giờ (bằng 63,2% số giờ nắng cả năm). Độ ẩm trung bình trong các tháng mùa nóng là 80,3%. Tổng lượng mưa đo được từ tháng 4 đến tháng 9 tại Vĩnh Yên là 1037,2 mm.

3.2.2. Phân hoá theo miền:

            Bên  cạnh việc phân  hóa theo  mùa, ta có thể thấy khí hậu Vĩnh  Phúc

còn có sự phân hoá theo các miền địa hình. Điều này được thể hiện ở sự khác biệt về nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, số giờ nắng giữa các miền đồng bằng và miền núi (qua quan trắc tại hai trạm khí tượng Vĩnh Yên và Tam Đảo). Chúng ta có thể thấy rõ sự phân hoá khí hậu này qua các biểu sau:

Qua biểu độ nhiệt độ trung bình qua các năm từ 1995 đến 2004 cho thấy: nhiệt độ trung bình hàng năm của Tam Đảo thấp hơn khoảng từ 50C đến 70C so với nhiệt độ trung bình của Vĩnh Yên. Năm gần đây nhất (2004), tháng nóng nhất ở Vĩnh Yên là tháng 6 (29,40C), tháng nóng nhất ở Tam Đảo là tháng 8 (23,30C), chênh nhau 6,10C; tháng lạnh nhất là tháng 01 chênh nhau tới 5,60C. Sự chênh lệch về nhiệt độ này là do độ cao gây nên (theo tính toán cứ lên cao 100m thì giảm 0,60C). Chính điều này đã tạo nên hiện tượng thời tiết mát mẻ cùng với cảnh sắc thiên nhiên phong phú, đa dạng là điều kiện thuận lợi cho Tam Đảo trở thành một khu du lịch, khu nghỉ mát nổi tiếng của miền Bắc và của cả nước.

Bảng 2:  Nhiệt độ trung bình (0C)

(Nguồn: Niên giám Thống kê Vĩnh Phúc năm 2004)

 

Trạm
Việt Trì

Trạm
Vĩnh Yên

Trạm
Tam Đảo

1995

23,5

23,4

17,9

1996

23,2

23,3

17,9

1997

23,8

24,1

18,5

1998

24,7

24,9

19,4

1999

23,8

24,1

18,4

2000

23,8

24,1

18,3

2001

23,8

24,1

18,4

2002

24,0

24,2

18,6

2003

24,5

24,9

18,2

2004

23,8

24,1

18,3

 

            Bảng 3: Lượng mưa trong năm (mm)

             (Nguồn: Niên giám Thống kê Vĩnh Phúc năm 2004)

 

Trạm 
Việt Trì

Trạm 
Vĩnh Yên

Trạm
 Tam Đảo

1995

1 179,5

1 131,3

1 994,6

1996

1 867,1

1 682,2

2 633,1

1997

1 548,0

1 682,6

2 478,0

1998

1 054,1

821,8

1 565,9

1999

1 039,0

1 192,0

1 870,0

2000

1 308,2

1 296,9

2 057,4

2001

1 517,7

1 356,4

2 143,3

2002

1 474,8

1 398,6

1 914,6

2003

1 470,2

1 394,8

2 343,3

2004

1 360,3

1 179,2

1 741,1

 

            Lượng mưa trung bình các năm ở Tam Đảo so với ở Vĩnh Yên thường cao hơn từ 600mm đến 1000mm. Tuy cùng mùa mưa nhưng cường độ mưa ở Tam Đảo lớn hơn cộng với yếu tố địa hình dốc nên đất đá bị rửa trôi, xói mòn mạnh, thậm chí gây ra hiện tượng ngập úng, lũ lụt cục bộ dọc theo các con suối (nhất là trong những năm gần đây, diện tích rừng bị suy giảm nhiều). Số ngày mưa bình quân trên năm ở Vĩnh Yên là 142,5 ngày và ở Tam Đảo là 193,7 ngày; số ngày có mưa phùn ở Vĩnh Yên là 23 ngày/năm và ở Tam Đảo là 46 ngày/năm.

Bảng 4:  Độ ẩm tương đối trung bình (%)

                (Nguồn: Niên giám Thống kê Vĩnh Phúc năm 2004)

 

Trạm 
Việt Trì

Trạm 
Vĩnh Yên

Trạm
 Tam Đảo

1995

83,5

83,2

89,0

1996

84,0

84,0

88,0

1997

86,0

83,9

88,3

1998

82,3

81,5

86,6

1999

83,0

84,0

88,0

2000

84,0

82,0

88,0

2001

84,7

83,0

88,4

2002

85,5

83,0

89,0

2003

83,2

80,4

87,4

2004

83,4

80,9

87,5

 

Những đặc điểm khí hậu cùng với sự phân hoá khí hậu theo mùa, theo miền đã ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất và đời sống, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp. Với một mùa đông lạnh và khí hậu núi cao (dãy Tam Đảo), Vĩnh Phúc có nhiều điều kiện để trồng và phát triển những loại cây hoa, rau, quả cận nhiệt đới và ôn đới như: su hào, bắp cải, su su, khoai tây, cà rốt, lê, táo… Thời tiết, khí hậu cộng với các yếu tố vị trí địa lý, địa hình thuận lợi đã  tạo điều kiện để Vĩnh Phúc phát triển những vùng chuyên canh rau, hoa, quả rộng lớn, cung cấp chủ yếu cho thị trường Hà Nội và các tỉnh lân cận như: vùng trồng hoa Tiền Phong, Mê Linh, vùng trồng rau Tam Đảo…  Số giờ nắng, độ ẩm, lượng mưa trung bình cũng là điều kiện cho thâm canh, tăng vụ trong sản xuất nông nghiệp.

Tuy nhiên, điều kiện khí hậu ở Vĩnh Phúc cũng có những tác động tiêu cực nhất định: các hiện tượng thời tiết bất lợi như: sương muối, sương giá… có ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất nông nghiệp, sự phân hoá theo mùa rõ rệt đã gây ra hiện tượng thiếu nước tưới về mùa khô ở một số nơi, lượng nhiệt cao cộng với độ ẩm lớn là môi trường thuận lợi cho nấm mốc, sâu bệnh và dịch bệnh phát triển. Những mặt trái này của thời tiết đã gây ra khó khăn cho hoạt động sản xuất và đời sống của người dân.

IV- Tài nguyên đất trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc:

4.1. Các loại đất phân theo thành phần tự nhiên:

Theo cách phân loại và kết quả của cuộc tổng điều tra chất lượng đất và đất ruộng năm 1987 do Trạm Nông hoá tỉnh tiến hành, đất ở Vĩnh Phúc được chia làm 8 loại thuộc 3 nhóm đất là: đất phù sa các sông (chiếm 62,2% diện tích) nhóm đất bạc màu (chiếm 24,8% diện tích); nhóm đất vùng núi đặc trưng (13,1% diện tích):

4.2. Phân loại đất theo công dụng kinh tế (theo mục đích sử dụng):

Ngoài cách phân loại đất theo các thành phần tự nhiên như trên ta có thể phân loại đất theo công dụng kinh tế. Theo Niên giám thống kê 2004 tỉnh Vĩnh Phúc chia đất ra làm 5 loại: Đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất chuyên dùng, đất ở và đất chưa sử dụng.

Qua phân tích cơ cấu đất đai phân theo công dụng kinh tế trong những năm gần đây ta có thế nhận thấy sự chuyển dịch trong cơ cấu sử dụng đất. Cụ thể: qua 3 năm (từ 2001 đến 2003), diện tích đất nông nghiệp và đất lâm nghiệp giảm xuống (đất nông nghiệp giảm 0,46%; đất lâm nghiệp giảm 0,15%), trong khi đó đất chuyên dùng và đất ở tăng lên một cách nhanh chóng, đặc biệt là đất chuyên dùng (đất chuyên dùng tăng 0,59%; đất ở tăng 0,06%). Đây là hệ quả tất yếu của quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá nhất là khi tỉnh Vĩnh Phúc mới tái lập đang trên đà phát triển, số lượng cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản xuất (đặc biệt là sản xuất công nghiệp) và cho đời sống nhiều. Trong những năm tới, tỉ lệ đất chuyên dùng và đất ở vẫn có khả năng tăng mạnh tuy nhiên cũng cần chú ý tới vấn đề bảo vệ và phát triển diện tích đất lâm nghiệp đồng thời tăng khả năng khai thác diện tích đất chưa sử dụng nhằm bảo vệ môi trường trong lành, giữ ổn định mực nước ngầm, hạn chế các thiên tai lũ lụt do phá rừng gây ra. Đây cũng chính là một nội dung trong quá trình thực hiện mục tiêu phát triển bền vững của tỉnh

V- Tài nguyên nước và mạng lưới sông ngòi:

Tài nguyên nước của Vĩnh Phúc bao gồm có nước trên bề mặt đất và nước ngầm.

5.1. Nước trên bề mặt đất ở Vĩnh Phúc tồn tại trong các dòng chảy như  sông suối và hệ thống các ao, hồ, đầm.

Vĩnh Phúc có một mạng lưới sông, suối khá dày đặc với hai hệ thống sông chính là sông Hồng và sông Cà Lồ. Chúng ta có thể điểm qua một số sông lớn và hồ đầm chính:

* Sông Hồng là hệ thống sông lớn nhất miền Bắc với hai nhánh lớn là sông Đà và sông Lô. Chính vì vậy mà lưu lượng nước của sông Hồng bị chi phối bởi chế độ thuỷ văn của hai con sông này. Sông Hồng chảy qua các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ và vào địa phận Vĩnh Phúc từ thành phố Việt Trì đến địa giới Hà Nội với chiều dài 41km. Lưu lượng dòng chảy trung bình trong năm của sông Hồng là 3860m3/s, về mùa lũ, lưu lượng dòng chảy trung bình có thể lên tới 8000m3/s; mực nước cao trung bình là 9,75m (đo năm 1996).

Sông Hồng có hàm lượng phù sa cao, tối đa có thể lên tới 14kg/m3, số lượng phù sa lớn (một năm khoảng 80 triệu m3, tương đương 130 triệu tấn), chất lượng phù sa tốt và nứơc sông chứa nhiều chất khoáng. Sông Hồng đã và vẫn  đang bồi đắp cho Vĩnh Phúc dải đồng bằng phì nhiêu, màu mỡ đồng thời cung cấp nước tưới, có ý nghĩa vô cùng quan trọng cho hoạt động sản xuất nông nghiệp - đặc biệt trong mùa khô.

* Sông Lô từ Vân Nam – Trung Quốc chảy qua các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Phú Thọ và vào Vĩnh Phúc từ xã Quang Yên – Lập Thạch đến ngã ba Bạch Hạc thì đổ vào sông Hồng với chiều dài là 34 km.

Sông Lô có lưu lượng dòng chảy bình quân nhiều năm là 1036m3/s. Hàm lượng phù sa ở sông Lô ít hơn sông Hồng song có độ phì cao hơn. Hàng năm sông Lô vẫn bồi đắp phù sa và cung cấp nước tưới cho các vùng bãi ven bờ một cách khá hiệu quả.

* Sông Phó Đáy bắt nguồn từ Bắc Kạn, chảy qua Tuyên Quang và vào địa phận Vĩnh Phúc từ xã Quang Sơn– Lập Thạch rồi đổ vào sông Lô tại địa phận xã Sơn Đông–Lập Thạch và xã Việt Xuân–Vĩnh Tường với chiều dài là 41,5km.

Sông Phó Đáy có lưu lượng nước bình quân khoảng 1000m3/s và nó có tới hàng chục chi lưu. Sông Phó Đáy là nguồn cung cấp nước quan trọng cho hệ thống nông giang Liễn Sơn dài hơn 150 km, tưới cho 14.000ha ruộng của các huyện Tam Dương, Vĩnh Tường, Yên Lạc, Bình Xuyên, Mê Linh.

* Sông Cà Lồ bắt nguồn từ xã Vạn Yên – Mê Linh theo hướng Tây Nam - Đông Bắc, vòng quanh thị xã Phúc Yên…rồi đổ vào sông Cầu ở thôn Lương Phúc xã Việt Long – Sóc Sơn – Hà Nội, dài 86 km. Lưu lượng nước sông Cà Lồ nhỏ, về mùa kiệt nhiều chỗ có thể lội qua được nhưng lại góp phần tiêu úng vào mùa mưa cho một diện tích đáng kể đất nông nghiệp.

Ngoài các sông chính như trên, Vĩnh Phúc còn có các sông nhỏ trong nội tỉnh như sông Phan, sông Bá Hạ… và nhiều con suối dưới chân dãy núi Tam Đảo.

* Đầm Vạc: Đây là đầm thiên tạo và có nhiều chi nhánh. Diện tích mặt nước của đầm là 255 ha với dung tích khoảng 8 triệu m3 nước. Đầm vạc không chỉ là một nguồn nước ngọt quan trọng cung cấp cho nông nghiệp và đời sống sinh hoạt của thị xã Vĩnh Yên mà còn có tiềm năng thuỷ sản, đặc biệt là tiềm năng lớn về  du lịch. Nếu khai thác một cách có hiệu quả thì đầm Vạc sẽ cho giá trị kinh tế cao, góp phần phát triển kinh tế – xã hội của thị xã Vĩnh Yên nói riêng và của cả tỉnh Vĩnh Phúc nói chung.

* Hồ Đại Lải: Đây là hồ nhân tạo lớn nhất tỉnh Vĩnh Phúc nằm trên địa bàn hai xã Ngọc Thanh và Cao Minh (Phúc Yên), cách Vĩnh Yên 21 km và cách thủ đô Hà Nội 45 km. Diện tích mặt hồ rộng 550 ha, độ cao trung bình 21,5m so với mực nước biển, chứa 25 triệu m3 nước, bảo đảm tưới cho 2900 ha đất canh tác của hai huyện Mê Linh, Phúc Yên (Vĩnh Phúc) và Sóc Sơn (Hà Nội). Hồ Đại Lải không chỉ có ý nghĩa như một công trình thuỷ lợi quan trọng mà còn là trọng điểm của cụm du lịch Xuân Hoà và vùng phụ cận.

Bảng 5:

Diện tích và dung tích của một số đầm hồ chính của tỉnh Vĩnh Phúc.

STT

ĐẦM HỒ

DIỆN TÍCH MẶT NƯỚC (HA)

DUNG TÍCH (TRIỆU M3)

GHI CHÚ

1

Hồ Đại Lải (Phúc Yên)

550

25

Nhân tạo

2

Hồ Vân Trục (Lập Thạch)

70

8,12

Nhân tạo

3

Hồ Xạ Hương (Tam Đảo)

46,2

12,7

Nhân tạo

4

Hồ Làng Hà (Tam Đảo)

25,3

1,85

Nhân tạo

5

Hồ Suối Sải (Lập Thạch)

20

3

Nhân tạo

6

Hồ Bò Lạc (Lập Thạch)

18

2,55

Nhân tạo

7

Đầm Dưng (Vĩnh Tường)

205

4

Tự nhiên

8

Đầm Vạc (Vĩnh Yên)

255

8

Tự nhiên

9

Các hồ còn lại

 

11

 

 

5.2. Nước ngầm:

Nước ngầm được tàng trữ trong hệ tầng trầm tích Neogen và đệ tứ, phân bố rộng rãi trong các vùng đồng bằng, thềm sông, suối, các khu vực có đất đá phong hoá mạnh mẽ, các đới phá huỷ và đứt gãy kiến tạo…Chiều sâu của đới nước ngầm trung bình từ vài mét đến hàng chục mét. Trong các đứt gãy, nước ngầm có thể tàng trữ ở độ sâu hàng trăm mét. Tổng trữ lượng nước ngầm đã được tính toán là 272.800m3/ngày đêm. Vùng nước ngầm lớn nhất là vùng Vĩnh Tường, Yên Lạc. Các đứt gãy sâu chứa nước ngầm là đứt gãy Tam Đảo và đứt gãy sông Lô.

Nước ngầm ở Vĩnh Phúc đã và đang được khai thác phục vụ sinh hoạt, đời sống và có thể sử dụng và sản xuất công nghiệp. Một vài nơi, nước ngầm có độ sắt cao, khi khai thác cần xử lý công nghiệp để loại bỏ.

Việc khai thác tài nguyên nước là một nhu cầu tất yếu nhằm phục vụ cho sản xuất, đời sống và ngày càng tăng lên trong qúa trình đẩy mạnh xây dựng tỉnh Vĩnh Phúc thành tỉnh công nghiệp. Tài nguyên nước ngoài việc phục vụ trực tiếp cho sinh hoạt và sản xuất còn là điều kiện để phát triển giao thông vận tải, nuôi trồng thủy sản, phát triển các loại hình du lịch sinh thái và là yếu tố không thể thiếu để cân bằng môi trường tự nhiên.

VI- Tài nguyên khoáng sản trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc:

6.1. Đặc điểm chung của tài nguyên khoáng sản trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc:

Khoáng sản ở Vĩnh Phúc được hình thành qua các giai đoạn vận động kiến tạo địa chất. ở mỗi một thời kỳ có một số loại khoáng sản đặc trưng, tuy nhiên cho đến thời điểm hiện nay, khoáng sản ở Vĩnh Phúc “chưa được điều tra theo hệ thống và chưa có mỏ nào được thăm dò chi tiết” (Nghiêm Xuân Thịch). Có thể thấy khoáng sản ở Vĩnh Phúc có một số đặc điểm cơ bản sau:

* Về cơ cấu: khoáng sản ở Vĩnh Phúc khá đa dạng về loại bao gồm cả các loại khoáng sản nhiên liệu (than nâu, than bùn), khoáng sản phi kim, khoáng sản kim loại và các khoáng sản được sử dụng làm vật liệu xây dựng khác …

* Về trữ lượng: Hầu hết các mỏ khoáng sản ở Vĩnh Phúc đều có trữ lượng nhỏ, chiều dài vỉa từ vài mét đến vài chục mét, chiều dày thường không đến một mét và chỉ có thể khai thác tận thu. Một số mỏ khoáng sản đã được nhân dân khai thác hết, hiện chỉ còn vết tích (như các hầm, hố, quặng, xỉ…).

* Về chất lượng: Hầu hết các loại khoáng sản đều có chất lượng ở mức trung bình, tỉ lệ thấp và thường pha tạp nhiều loại chất khác.

* Về mặt phân bố: Các mỏ khoáng sản ở Vĩnh Phúc phân bố thành các mỏ nhỏ, lẻ, chủ yếu ở vùng đồi, núi, dọc theo các đứt gãy, các uốn nếp (chủ yếu phân bố ở Lập Thạch, Tam Đảo, Tam Dương). Một số địa phương có các loại khoáng sản tập trung với mức độ cao như: Đạo Trù (Tam Đảo), Bạch Lưu (Lập Thạch), Hoàng Đan, Thanh Vân (Tam Dương).

Như vậy, xét về mặt trữ lượng, chất lượng và phân bố, khoáng sản Vĩnh Phúc đa dạng về chủng loại nhưng giá trị kinh tế không cao, khó đầu tư và khai thác. Một số loại khoáng sản có trữ lượng khá (như cao lanh, cát, sỏi) chủ yếu được sử dụng làm vật liệu xây dựng.

6.2. Một số loại khoáng sản và phân bố trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc:

Có thể chia khoáng sản ở Vĩnh Phúc thành một số nhóm cơ bản sau:

6.2.1. Nhóm khoáng sản nhiên liệu:

Hiện nay trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đã xác định được các loại khoáng sản nhiên liệu như: than antraxit, than nâu, than bùn.

* Than antraxit: Qua thăm dò ở Đạo Trù (Tam Đảo) đã xác định chiều dài vỉa 20m, chiều dầy vỉa từ 0,5 đến 0,8m với trữ lượng khoảng 1000 tấn. Đó là vỉa than đá trong hệ tầng Văn Lãng (Thái Nguyên) có nhiệt lượng là 7000-8000 Kcalo. Than thành tạo trong địa tầng có tuổi Triat bậc nori-reti. Đất đá vây quanh là cuội kết, cát kết, bột kết và sét than.

* Than nâu: Địa tầng chứa than nâu ở các xã Bạch Lưu, Đồng Thịnh (Lập Thạch) thuộc hệ tầng Phan Lương, có tuổi Neogen cũng gồm có cát kết, sỏi kết, bột kết, sét kết và sét than. Vỉa than Bạch Lưu dày 0,8m, dài 10m, chưa được thăm dò đánh giá. Vỉa  than Đồng Thịnh dày 0,4 đến 0,5m, nằm thoải dưới chiều sâu 5m đến 7m, phủ trên là sét kết và bột kết có trữ lượng khoảng vài ngàn tấn. Than nâu tương đương than Na Dương có nhiệt lượng 6000 đến 8000 Kcalo. Nhân dân đã khai thác để đốt gạch ngói và đun nấu.

* Than bùn: Vĩnh Phúc có nhiều điểm than bùn, trong đó đáng kể là hai vùng: Văn Quán (Lập Thạch), Hoàng Đan, Hoàng Lâu (Tam Dương).

6.2.2. Nhóm khoáng sản kim loại:

Bao gồm các điểm khoáng dọc theo đứt gãy sườn Tây Nam Tam Đảo và chưa được đánh giá.

* Barit: Chủ yếu gặp dưới dạng tảng lăn, có nguồn gốc nhiệt dịch, đi với chì, kẽm gồm ba dải mạch ở Đạo Trù (Tam Đảo):

- Dải mạch Vĩnh Ninh: Dài 10m, dày 0,2 đến 0,3m.

- Dải mạch Suối Son: Dài 40m, rộng 0,5 đến 1m, phát triển không liên tục.

- Dải mạch xóm Tân Lập: có nhiều nhánh dài 30 đến 50m, dày 0,5 đến 1m. Điểm quặng này đã được khai thác từ lâu đời.

* Đồng: Mới phát hiện được các điểm khoáng nghèo quặng là Trancopyrit (CuFeS2) được đi kèm với pirit, pirotin. Có thể kể các điểm khoáng hoá ở Suối Son, Đồng Giếng (Đạo Trù – Tam Đảo), Đồng Bùa (Tam Quan), Hợp Châu (Tam Dương), Bàn Long, Minh Quang (Bình Xuyên).

* Vàng: Phân bố dọc theo đứt gãy Tây Nam – Tam Đảo có nhiều mạch Thạch anh được xác định cùng tuổi với khoáng hoá vàng và những vành phân tán vàng sa khoáng ở Đạo Trù, Minh Quang, Thanh Lanh, Thanh Lộc. Xác định khả năng chứa vàng của dãy núi Tam Đảo tại Hợp Châu, cây số 13, người Trung Quốc đã đào những đường lò dài tới 300 m dọc theo các mạch Thạch Anh cùng tuổi với giai đoạn thành tạo vàng của thế giới (Kỷ Jura). Trên những mạch thạch anh này thành phần vàng đạt 8g/m3.

* Thiếc: Hiện nay mới thấy thiếc trong sa khoáng ở xóm Giếng (Đạo Trù), suối Đền Cả (Đại Đình) với hàm lượng nghèo (vài g/m3). Các nhà địa chất nước ngoài dự báo ở vùng núi Tam Đảo còn có một loại thiếc thớ gỗ rất giàu nhưng chưa phát hiện được.

* Sắt: có hai dải đáng kể ở Bàn Giản (Lập Thạch) và Khai Quang (Vĩnh Yên)

Dải sắt Khai Quang – Vĩnh Yên: Bắt đầu từ xã Đạo Tú, Thanh Vân (Tam Dương) qua Định Trung về Khai Quang (Vĩnh Yên) có chiều dài hàng chục km nhưng không liên tục, rộng hàng chục mét, có chỗ hàng trăm mét. Tại Đạo Tú và Thanh Vân người ta đã khai thác sắt trên một đứt gãy khu vực, để lại hàng trăm đống xỉ ước tính hàng vạn tấn.

* Ở dãy Tam Đảo ngoài các khoáng sản vonfram, thiếc, chì, kẽm, barit còn có thể có khoáng sản liên quan đến sự hoạt động của núi lửa. Đây là khu vực cần được nghiên cứu chi tiết để có thể phát hiện các cùng có khoáng sản quan trọng.

6.2.3. Nhóm khoáng sản phi kim loại:

            Chủ yếu là cao lanh có nguồn gốc phong hóa từ  các đá: granit, plagio granit và các mạch đá aplit, sionit phân bố ở Tam Dương, Vĩnh Yên, Lập Thạch.

            Mỏ cao lanh Định Trung – Vĩnh Yên có nguồn gốc phong hoá từ khối granitoit, diện tích 5,5 km2. Có hai loại chính là:

            - Cao lanh do đá granit phong hoá với trữ lượng trên 6 triệu tấn. Lớp cao lanh dày từ 1 đến 7 m, lớp phủ 0,5 đến 3 m, có màu trắng hoặc trắng phớt vàng được sử dụng làm nguyên liệu để sản xuất gạch chịu lửa 16300C – 17300C. Ngoài ra còn sử dụng để dản xuất gốm sứ.

            Cao lanh phong hoá còn có ở Thanh Vân, Hướng Đạo, Hoàng Hoa (Tam Dương), Yên Dương (Lập Thạch) nhưng chưa được đánh giá.

            - Cao lanh phân bố ở mỏ Định Trung, xóm Mới – Thanh Vân và rải rác ở thôn Lai Sơn – Thanh Vân, Kim Long (Tam Dương). Mỏ cao lanh kéo dài 5 đến 10 m tạo thành chuỗi và đới không liên tục như đới Định Trung – xóm Mới dài tới 500 m, rộng 20 m, trữ lượng vài trăm ngàn tấn. Loại cao lanh này có thể thu hồi 95% - 98%, được sử dụng làm chất độn cho sơn, cho cao su, giấy ảnh, giấy in tiền… Mỏ được khai thác từ năm 1965, mỗi năm tiêu thụ hàng ngàn tấn.

6.2.4. Nhóm vật liệu xây dựng:

* Sét gạch ngói: được phân bố rộng rãi ở vùng đồng bằng và vùng đồi.

- Sét phân bố ở vùng đồng bằng: Có nguồn gốc trầm tích sông, biển, đầm, hồ. Có độ dẻo mịn được dùng làm gạch ngói. Tầng sét dày từ 1m đến 10m trên diện tích hàng trăm km2với trữ lượng hàng tỉ m3. Chỉ tính 3 mỏ đã được thăm dò là Đầm Vạc, Quất Lưu (Vĩnh Yên), Bá Hiến (Bình Xuyên) đã có trữ lượng hàng chục triệu m3. Tuy nhiên các mỏ sét hiện nay đang là khu vực sản xuất lương thực hoặc đầm, hồ, sông ngòi… không thể quy hoạch để sản xuất gạch ngói được. Việc san, lấp, lấy sét để sản xuất gạch ngói, giải quyết công ăn việc làm nhưng do quản lý không chặt chẽ nên việc phá ruộng lấy đất làm gạch ở Hương Canh, Quất Lưu có thời gian rất nghiêm trọng gây ảnh hưởng tới sản xuất nông nghiệp và môi trường sinh thái.

- Sét phân bố ở vùng đồi: Có nguồn gốc phong hoá không triệt để từ các đá alumosilicat nên độ mịn không cao, độ xốp lớn và kém dẻo. Loại sét này có độ dày từ 1m đến 5m, có màu nâu vàng, dùng sản xuất gạch nhưng gạch thường xốp và giòn, hao tốn nhiều nhiên liệu đốt.

* Sét màu xám đen, xám nâu Xuân Hoà được phong hoá từ đá phiến sét có tuổi Đê vôn. Khi nung đến 900 -10000C, nước thoát ra làm cho đất sét phồng lên tạo ra những lỗ xốp được gọi là sét Kêranzit dùng sản xuất bê tông nhẹ xây dựng các công trình trên nền đất yếu, để chống nóng, chống ồn do tính cách nhiệt và cách âm của nó. Mỏ sét Xuân Hoà có đến hàng triệu m3.

* Cát sỏi lòng sông và bậc thềm: Cát sỏi lòng sông Lô, sông Phó Đáy thuộc loại cát sỏi thach anh, silic có độ cứng cao, sắc cạnh, có độ bám dính và liên kết vôi, vữa, xi măng tốt.

Cát sỏi lòng sông Lô ở các bãi bồi thung lũng sông có trữ lượng tới 30 triệu m3, hàng năm lại được bổ sung từ thượng nguồn về hàng triệu m3. Mỗi năm khai thác được khoảng 1 triệu m3 để phục vụ cho nhu cầu xây dựng trong tỉnh và ở các tỉnh, thành phố lân cận (như Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh…).

* Đá xây dựng: Bao gồm đá khối, đá tảng, đá dăm với một khối lượng khổng lồ hàng tỉ m3 được phân bố ở dãy núi Tam Đảo.

Ở vùng Bạch Lưu, Hải Lựu (Lập Thạch) có loại đá cát kết, hạt vừa và nhỏ, cấu tạo khối. Đây là điều kiện thuận lợi để Hải Lựu hình thành và phát triển một làng nghề truyền thống đẽo đá, tạc đá thành những sản phẩm gia dụng và tác phẩm nghệ thuật có giá trị thẩm mỹ và kinh tế cao. Loại đá hộc, đá khối nhỏ không dùng để tạc đều làm đá kè đê, kè đường… mỗi năm cung cấp hàng trăm ngàn m3.

VII- Tài nguyên sinh vật trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc:

Cùng với các loại tài nguyên đất, nước, khoáng sản, Vĩnh Phúc còn có một hệ động thực vật vô cùng phong phú.

Tài nguyên sinh vật ở Vĩnh Phúc thể hiện rõ nền cảnh chung của hệ động thực vật những khu vực có đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm. Ngày nay do dân số gia tăng và hoạt động khai thác quá mức các nguồn lợi từ thiên nhiên đặc biệt là các nguồn lợi từ rừng, sông, hồ, đầm… nên nguồn tài nguyên sinh vật đã bị suy giảm đáng kể.

7.1. Về thực vật:

Vĩnh Phúc có thảm thực vật khá đa dạng và phong phú, đặc biệt tập trung nhiều ở vùng núi cao Tam Đảo (thuộc các huyện Tam Đảo, Lập Thạch, một phần ở Bình Xuyên, Phúc Yên). Qua những khảo sát bước đầu các nhà thực vật học đã thống kê được trong vườn quốc gia Tam Đảo có tới 130 họ, 344 chi, 490 loài thực vật bậc cao. Trong đó nhóm quyết thực vật có 21 họ, 32 chi, 53 loài; nhóm thực vật hạt kín có 102 họ 305 chi, 426 loài. Xét về công dụng, có thể phân chia thực vật rừng Tam Đảo thành các nhóm sau: Nhóm cho gỗ có 83 loài; nhóm làm rau ăn có 54 loài; nhóm làm thuốc có 214 loài và nhóm cho quả ăn có 62 loài. Trong số đó nhiều loài có giá trị kinh tế cao như Pơ mu, La hán, Kim giao, Lát hoa, Lim xanh, Sến mật, Thông tre, Trầm hương… Những loài thực vật quý hiếm này phân bố tập trung nhiều ở đỉnh Rùng rinh và ở độ cao khoảng 800m. Các loại cây gỗ quý như đinh, lim, sến, táu…cây thuốc quý như sa nhân, ngũ gia bì, hà thủ ô…thường gặp trong rừng núi Tam Đảo và có thể đã được con người khai thác từ rất sớm.

7.2. Về động vật:

Thống kê cho thấy rừng Tam Đảo có tới 4 lớp động vật, 26 bộ, 86 họ, 282 loài sinh sống. Trong đó lớp lưỡng cư có 19 loài (cá lóc Tam Đảo, chỉ phát hiện được ở vùng núi Tam Đảo thuộc lớp này và là loài động vật cực kỳ quý hiếm, được đưa vào sách đỏ); lớp bò sát có 46 loài, trong đó có số lượng lớn là tắc kè, kỳ đà, thằn lằn; lớp chim có 158 loài trong đó có nhiều loại quý hiếm như gà lôi trắng, gà tiền; lớp thú có 58 loài trong đó có các loài lớn như gấu, hổ, báo… và các loài nhỏ như cầy, sóc, chuột, hươu… Một số loài phát hiện được có giá trị khoa học và giá trị kinh tế cao như: cheo cheo, voọc đen má trắng, voọc mũi hếch…(Hoàng Xuân Chinh – Vĩnh Phúc thời tiền sử sơ sử - trang 26)

Trong số 281 loài động vật đã phát hiện được ở vùng rừng núi Tam Đảo, có 47 loài được xem là động vật quý hiếm, trong đó có loài hiện đang có nguy cơ tuyệt diệt, có loài hiện chỉ phát hiện được ở vùng Tam Đảo mà thôi. Vườn quốc gia Tam Đảo với diện tích tự nhiên là 36.883ha, trong đó có 23.000 ha rừng chạy dài 80 km theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, nằm tiếp giáp với 3 tỉnh là Thái Nguyên, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc, trung tâm vườn cách Hà Nội 70 km và cách thị xã Vĩnh Yên 13 km. Hiện nay, vườn quốc gia Tam Đảo vẫn được xem là một bảo tàng thiên nhiên vô cùng quý giá, là trung tâm nghiên cứu khoa học về hệ sinh thái rừng, về bảo vệ nguồn gen động, thực vật quý hiếm, về cân bằng môi trường sinh thái, điều hoà nguồn nước… Bảo tồn các loài sinh vật trong vườn quốc gia Tam Đảo nói riêng và khu vực rừng núi Tam Đảo nói chung có ý nghĩa quan trọng về mọi mặt không chỉ đối với tỉnh Vĩnh Phúc mà còn đối với cả nước. (Vĩnh Phúc – Tiềm năng và triển vọng đầu tư)

Ngoài những loài động thực vật sinh sống chủ yếu  trong vùng rừng núi Tam Đảo, các sông suối, hồ, đầm trên địa bàn Vĩnh Phúc còn là nơi sinh sống của nhiều loài thủy sản như cá, tôm, cua, ốc, hến…Hiện nay chưa thống kê chính xác có bao nhiêu loài thuỷ sản nhưng nhiều loài có giá trị kinh tế cao, hương vị thơm ngon, bổ dưỡng và trở thành đặc sản nổi tiếng của vùng đất Vĩnh Phúc như: cá Anh vũ trên sông Hồng, hến sông Phan, tép dầu, trạch chấu, chai chai đầm Vạc…

Th.S.Nguyễn Xuân Thăng - Trưởng Khoa Quản lý Nhà nước

Nghiên cứu khoa học

Video

Phóng sự kỷ niệm 60 năm thành lập trường Chương trình lý luận và cuộc sống tháng 11 năm 2017 Chương trình lý luận và cuộc sống tháng 10 năm 2017 Chương trình lý luận và cuộc sống tháng 9 năm 2017 Chương trình Lý luận và cuộc sống tháng 7 năm 2017
Xem tất cả »

Hình ảnh


Liên kết website