PHẦN ĐỊA LÝ VĨNH PHÚC - Chương 3: DÂN CƯ VÀ NGUỒN LAO ĐỘNG

Ngày đăng: 10/09/2006

I- Số dân và sự gia tăng dân số:

1.1. Số dân:

          Tính đến năm 2002 (theo số liệu thống kê năm 2002 trong Niên giám Thống kê 2002, NXB Thống kê - 2003), tỉnh Vĩnh Phúc có 1.127.500 người, chiếm 1,41% so với tổng số dân của cả nước, đứng thứ 26 trên tổng số 64 tỉnh, thành phố thuộc trung ương. Như vậy có thể thấy dân số của Vĩnh Phúc về quy mô ở mức trung bình. Thông qua việc nghiên cứu quy mô dân số ta có thể thấy được sự ảnh hưởng trực tiếp của nó đến nguồn lao động và các vấn đề kinh tế, xã hội khác như: việc làm, xoá đói giảm nghèo, môi trường…

            Tính đến năm 2004 (theo Niên giám Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc), tổng số dân của Vĩnh Phúc đã là 1.154.792 người. Số dân của các huyện, thị xã trong tỉnh chênh nhau khá lớn: huyện Lập Thạch là huyện có số dân đông nhất là 210.277 người gấp 3,16 lần huyện có số dân ít nhất là Tam Đảo (66.536 người). Thị xã Vĩnh Yên có dân số trung bình là 79.141 người. Ta có thể thấy rõ dân số trung bình năm 2004 phân theo huyện, thị xã như sau:

Bảng 6:

Dân số trung bình phân theo huyện, thị xã năm 2004

(Nguồn: Niên giám Thống kê Vĩnh Phúc năm 2004)

Đơn vị: Người

 

 

Tổng số

Tổng số

Phân theo

giới tính

Phân theo thành thị,

nông thôn

Nam

Nữ

Thành thị

Nông thôn

1154792

558226

596566

160216

994576

Thị xã Vĩnh Yên

79 141

38 262

40 879

66 024

13 117

Thị xã Phúc Yên

84 000

40 576

43 424

48 143

35 857

Huyện Lập Thạch

210 277

100 376

109 901

6 095

204 182

Huyện Tam Du­ơng

93 464

45 737

47 727

9 247

84 217

Huyện Tam đảo

66 536

31 681

34 855

644

65 892

Huyện Bình Xuyên

104 555

49 764

54 791

13 030

91 525

Huyện Mê Linh

180 529

89 014

91 515

-

180 529

Huyện Yên Lạc

145 056

70 963

74 093

13 074

131 982

Huyện Vĩnh Tu­ờng

191 234

91 853

99 381

3 959

187 275

 

1.2. Sự gia tăng dân số ở Vĩnh Phúc từ khi tái lập tỉnh đến nay:

Từ khi tái lập tỉnh (1997) đến nay, dân số Vĩnh Phúc tăng lên không ngừng. Chỉ tính riêng từ năm 2000 đến năm 2004, dân số Vĩnh Phúc đã tăng thêm 44681 người. Tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên các năm từ 2000 đến 2004 là từ 1,1% đến 1,3%. Như vây, tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên ở Vĩnh Phúc thấp hơn tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên của cả nước.

Từ năm 2000 đến năm 2004, tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên của Vĩnh Phúc đã giảm từ 1,32% xuống còn 1,11%. Đây là hệ quả trực tiếp của việc giảm tỉ lệ sinh, bắt nguồn từ việc tuyên truyền và thực hiện tốt chính sách kế hoạch hoá gia đình.

Bảng 7Tỉ lệ sinh, tử và tăng tự nhiên dân số

                                 (Nguồn: Niên giám Thống kê Vĩnh Phúc năm 2004)

 

Tổng số

Tỷ lệ sinh

Tỷ lệ chết

Tỷ lệ tăng tự nhiên

 

 

 

1990

26,33

4,91

21,42

1991

27,60

4,95

22,65

2000

17,15

3,92

13,23

2001

16,85

3,99

12,86

2002

15,87

4,15

11,72

2003

15,43

4,15

11,28

2004

15,39

4,26

11,13

Thành thị

 

 

 

1990

17,67

3,90

13,77

1991

18,10

4,38

13,72

2000

16,29

3,94

12,35

2001

16,10

3,64

12,46

2002

14,59

3,59

11,00

2003

13,95

4,05

9,90

2004

14,40

3,95

10,45

Nông thôn

 

 

 

1990

26,87

4,97

21,90

1991

28,16

4,98

23,18

2000

17,25

3,92

13,33

2001

16,94

4,01

12,93

2002

16,03

4,21

11,82

2003

15,64

4,16

11,48

2004

15,56

4,31

11,25

 

Việc gia tăng dân số có liên quan trực tiếp đến các yếu tố như: trình độ dân trí, công tác tuyên truyền và thực hiện các chính sách dân số, công tác y tế và chăm sóc sức khoẻ nhân dân… Ta có chứng minh được điều này thông qua việc so sánh tỉ lệ sinh, tỉ lệ chết và tỉ lệ gia tăng tự nhiên giữa khu vực nông thôn và khu vực thành thị của tỉnh Vĩnh Phúc qua bảng số liệu (bảng số 7) 

1.3. Cơ cấu dân số Vĩnh Phúc hiện nay:

1.3.1. Cơ cấu theo giới:

            Tổng số dân của Vĩnh Phúc tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2004 là 1154792 người, trong đó nữ chiếm 596566 người bằng 51,7%; nam chiếm 558226 người bằng 48,3%. Cơ cấu giới có sự chênh lệch về tỉ lệ giữa nam và nữ ở mức trung bình do các yếu tố tâm sinh lý và các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tác động. Tại các huyện, thị xã trong tỉnh, cơ cấu dân số theo giới cũng cân đối ở một khoảng nhất định, không có sự chênh lệch nào đáng kể.

            1.3.2. Cơ cấu theo vùng:

            Trong những năm vừa qua, đặc biệt từ khi tái lập tỉnh đến nay số dân trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc sống tại khu vực thành thị tăng lên nhanh chóng biểu hiện quá trình đô thị hoá đang diễn ra mạnh mẽ. Mặc dù vây, so với mức trung bình của cả nước, số dân Vĩnh Phúc sinh sống tại khu vực thành thị vẫn ở mức thấp chỉ chiếm có 13,9%, trong khi đó dân số sinh sống tại khu vực nông thôn chiếm 86,1% dân số cả tỉnh.

            Theo thống kê dân số tính đến ngày 31 tháng 12 năm 1982 cho thấy:  so với các huyện, thị xã khác thì thị xã Vĩnh Yên là đơn vị hành chính có số dân sống tại khu vực thành thị cao nhất (83,4%) do đây là đô thị loại 3, tỉ lệ phi nông nghiệp cao và là trung tâm chính trị, văn hoá đồng thời đang khẳng định mình để trở thành trung tâm kinh tế của cả tỉnh; Mê Linh là đơn vị hành chính có tỉ lệ dân số sống tại khu vực thành thị thấp nhất (0%) do đây là huyện duy nhất trong tỉnh chưa có thị trấn; Tam Đảo có số dân tập trung tại khu vực thành thị cũng ở mức rất thấp là 1% do đây là huyện miền núi, có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, thị trấn Tam Đảo nhỏ với chức năng chủ yếu là phát triển du lịch, văn hoá. 

            Trong những năm tới, cùng với tốc độ phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh, quá trình đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ sẽ làm cho tỉ lệ dân số sinh sống tại các đô thị tăng lên nhanh chóng.

            Có thể thấy rõ cơ cấu dân số của Vĩnh Phúc phân theo giới và phân theo vùng qua bảng số liệu (bảng 8):

1.4. Mật độ dân số tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay:

            Mật độ dân số của Vĩnh Phúc hiện nay là 842 người/km2. Đây là mức khá cao so với mật độ dân số trung bình của cả nước. Các huyện thị trong tỉnh có mật độ dân số cao là: thị xã Vĩnh Yên (1580 người/km2); Yên Lạc (1359người/km2); Vĩnh Tường (1348 người/km2). Đây đều là những huyện ở vùng đồng bằng và khu vực đô thị có điều kiện thuận lợi cho việc quần cư và tiến hành các hoạt động sản xuất nông nghiệp, công nghiệp. Ngược lại những huyện miền núi là những huyện có mật độ dân số ít, có diện tích rừng, điều kiện địa hình không thuận lợi cho sản xuất và lưu thông, dân cư sống thưa thớt như: Tam Đảo (282 người/ km2); Lập Thạch (651 người/km2), (bảng 9).

Bảng 8: Cơ cấu dân số tỉnh Vĩnh Phúc năm 2004

(Nguồn: Niên giám Thống kê Vĩnh Phúc năm 2004)

 

Cơ cấu dân số

Phân theo giới

Phân theo vùng

Nam %

Nữ %

Thành thị %

Nông thôn %

Tổng số

48,3

51,7

13,9

86,1

Vĩnh Yên

48,3

51,7

83,4

16,6

Phúc Yên

48,3

51,7

57,3

42,7

Lập Thạch

47,7

52,3

2,9

97,1

Tam Dương

48,9

51,1

9,9

90,1

Tam Đảo

47,6

52,4

01

99

Bình Xuyên

47,6

52,4

12,5

87,5

Mê Linh

49,3

50,7

00

100

Yên Lạc

48,9

51,1

9,0

91

Vĩnh Tường

48

52

2,1

97,9

 

Bảng 9:  Mật độ dân số tỉnh Vĩnh Phúc năm 2004

(Niên giám Thống kê Vĩnh Phúc năm 2004)

 

 

Tổng số

Diện tích tự nhiên (Km2)

Dân số trung

bình (Người)

Mật độ dân số (Nguời/Km2)

1.371,41

1154 792

842

Thị xã Vĩnh Yên

50,09

79 141

1.580

Thị xã Phúc Yên

120,33

84 000

698

Huyện Lập Thạch

323,07

210 277

651

Huyện Tam Dương

107,04

93 464

873

Huyện Tam Đảo

235,90

66 536

282

Huyện Bình Xuyên

145,59

104 555

718

Huyện Mê Linh

140,95

180 529

1.281

Huyện Yên Lạc

106,72

145 056

1.359

Huyện Vĩnh Tu­ờng

141,82

191 234

1.348

 

(*) Diện tích tự nhiên theo huyện thị là số liệu năm 2003 theo Nghị định 153/NĐ-CP ngày 9/12/2003 của Chính Phủ

II. Đặc điểm dân tộc và các thành phần dân tộc trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

Trong tổng số 9 đơn vị hành chính cấp huyện hiện nay ở Vĩnh Phúc có 4 huyện, thị xã có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống thành cộng đồng đó là Bình Xuyên, Tam Đảo, Lập Thạch, Phúc Yên.

Hiện nay toàn tỉnh có 39 xã được công nhận là xã miền núi với 301 thôn, bản, 47.000 hộ và 235.000 khẩu, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số gồm 7.365 hộ, 38.082 khẩu, chiếm 3,13 % dân số cả tỉnh. Đồng bào dân tộc thiểu số sống tập trung chủ yếu ở 17 xã thuộc 4 huyện, thị xã, trong đó chiếm tỉ lệ cao nhất là huyện Tam Đảo (9/9 xã, thị trấn có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống với 5.451 hộ, 25.226 khẩu bằng 38% dân số cả huyện). Trong số các dân tộc sống thành cộng đồng thì đông nhất là dân tộc Sán Dìu chiếm 88,49%, dân tộc Cao Lan (Sán Chay) chiếm 3,6%, dân tộc Tày chiếm 2,44%, dân tộc Dao chiếm 1,86%, dân tộc Mường chiếm 0,97%. Còn lại các dân tộc khác chiếm 1,38%. Các dân tộc sống đan xen, đoàn kết, hoà thuận và hỗ trợ nhau phát triển.

            Ở Vĩnh Phúc đồng bào dân tộc thiểu số sống tập trung chủ yếu ở miền núi, đời sống còn rất nhiều khó khăn. Những năm qua, các chính sách dân tộc và miền núi của Đảng và nhà nước được thực hiện trên địa bàn tỉnh đã góp phần nâng cao đời sống vật chất và tình thần cho đồng bào dân tộc và miền núi, rút ngắn dần khoảng cách giữa miền núi và đồng bằng. (Báo cáo tổng kết công tác dân tộc năm 2004, Ban Dân tộc và tôn giáo).

III. Nguồn lao động

          3.1. Quy mô nguồn lao động:

Nguồn lao động là số người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động và số người ngoài độ tuổi lao động hiện đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân.

Theo bộ Luật Lao động nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1994, lao động trong độ tuổi lao động là: Nam từ 15 đến 60 tuổi; nữ từ 15 đến 55 tuổi.

Tính đến ngày 1/7/2004, nguồn lao động của Vĩnh Phúc thống kê được là 748,05 nghìn người, bằng 64,78% dân số toàn tỉnh (cao hơn nhiều so với tỉ lệ lao động trung bình trên tổng số dân trung bình của cả nước). Trong đó, số người ngoài tuổi lao động vẫn tham gia lao động trong các ngành kinh tế quốc dân là: 29.650 người (chiếm 3,96% nguồn lao động của cả tỉnh). Trung bình mỗi năm nguồn lao động Vĩnh Phúc được bổ sung khoảng gần 20 nghìn người phục vụ trong các ngành, các thành phần kinh tế. Từ năm 2000 đến năm 2004, nguồn lao động trung bình của Vĩnh Phúc đã tăng thêm 75.850 lao động (bằng 11,28%) (Theo Niên giám thống kê tỉnh Vĩnh Phúc năm 2004)

3.2. Cơ cấu lao động theo ngành kinh tế và theo thành phần kinh tế:

            Từ sau Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 đến nay, thực hiện đường lối đổi mới nền kinh tế nhằm xây dựng một nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, cơ cấu nền kinh tế nước ta đã có sư chuyển dịch đúng đắn. Cùng với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành và theo thành phần, cơ cấu lao động cũng có sự chuyển dịch nhanh chóng và tích cực. Ta có thể thấy rõ điều này qua bảng số liệu sau:

            Bảng 10Cơ cấu lao động của Vĩnh Phúc phân theo thành phần kinh tế và ngành kinh tế

 (Báo cáo Tổng kết tình hình phát triển các thành phần kinh tế ở tỉnh Vĩnh Phúc sau 20 năm đổi mới)

Cơ cấu lao động (%)

1990

1995

2000

2003

1. Phân theo thành phần kinh tế

100,00

100,00

100,00

100,00

   + Kinh tế nhà nước

5,12

4,89

5,36

5,91

   + Kinh tế tập thể

90,65

71,53

37,82

19,91

   + Kinh tế tư nhân

4,22

23,54

56,47

72,76

   + Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

0,00

0,05

0,36

1,41

2. Phân theo ngành kinh tế

100,00

100,00

100,00

100,00

   + Nông, lâm nghiệp, thuỷ sản

86,52

87,09

86,44

79,62

   + Công nghiệp, xây dựng

6,16

5,92

6,23

9,44

   + Dịch vụ

7,33

6,99

7,25

10,94

 

          Qua bảng số liệu ta có thể thấy sự chuyển dịch cơ cấu lao động theo thành phần kinh tế. Từ năm 1990 đến 2003, tỉ lệ lao động làm việc trong thành phần kinh tế tập thể đã giảm mạnh từ 90,65% xuống còn 19,91%, ngược lại tỉ lệ lao động làm việc trong thành phần kinh tế tư nhân lại tăng mạnh từ 4,22% lên 72,76%, tỉ lệ lao động làm việc trong thành phần kinh tế nước ngoài cũng tăng từ 0% lên 1,41%. Trong khi đó, thành phần kinh tế nhà nước sau một thời gian thích ứng với cơ chế thị trường vẫn giữ được vị trí chủ đạo của mình và thu hút một tỉ lệ lao động nhất định (năm 2003 bằng 5,91%).

Cùng với sự chuyển dịch cơ cấu lao động theo thành phần kinh tế, cơ cấu lao động theo ngành kinh tế cũng cũng có sự vận động theo hướng giảm dần tỉ lệ lao động làm việc trong ngành nông, lâm, ngư nghiệp đồng thời tăng dần tỉ lệ lao động làm việc trong ngành công nghiệp, xây dựng và ngành dịch vụ. Từ năm 1990 đến năm 2003, tỉ lệ lao động làm việc trong ngành nông nghiệp đã giảm từ  86,52% xuống còn 79,62% (giảm 6,9%); tỉ lệ lao động làm việc trong ngành công nghiệp và xây dựng đã tăng từ 6,16% lên 9,44% (tăng 3,28%); tỉ lệ lao động làm việc trong ngành dịch vụ đã tăng từ 7,33% lên 10,94% (tăng 3,61%).

Sự chuyển dịch cơ cấu sử dụng lao động như trên là hoàn toàn phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu theo ngành và theo thành phần của nền kinh tế. Đây là xu hướng chuyển dịch đúng đắn và sẽ còn tiếp tục diễn ra mạnh mẽ trong những năm tới, trong quá trình tỉnh Vĩnh Phúc vươn lên thành một tỉnh công nghiệp.


KẾT LUẬN

Vĩnh phúc là tỉnh đất không rộng, người không đông nhưng lại có một lịch sử hình thành và quá trình khai thác lãnh thổ lâu đời với những truyền thống văn hoá đa dạng, phong phú và có một vị trí địa lý vô cùng quan trọng, thuận lợi cho phát triển kinh tế, xã hội. Các yếu tố địa lý của Vĩnh Phúc như: vị trí, địa hình, khí hậu, tài nguyên thiên nhiên, dân cư, nguồn lao động… là những nguồn lực vô cùng quan trọng để Vĩnh Phúc vươn lên phát triển mạnh mẽ trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

            Trải qua tiến trình lịch sử lâu dài với những tác động của nội lực, ngoại lực và nhất là những tác động của con người, các yếu tố địa lý về vùng đất, về con người Vĩnh Phúc dần hình thành và dần khẳng định vị trí trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội… Việc trang bị kiến thức về địa lý tỉnh Vĩnh Phúc là một yêu cầu khách quan đặc biệt đối với các cán bộ, công chức đang công tác trong các cơ quan nhà nước ở các cấp. Tìm hiểu địa lý tỉnh Vĩnh Phúc không chỉ góp phần nâng cao nhận thức mà còn phục vụ trực tiếp công tác quản lý nhà nước tại địa phương, cơ sở. Những kiến thức này sẽ là căn cứ quan trọng để xây dựng những định hướng chiến lược, lâu dài có thể phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của các yếu tố địa lý, góp phần thúc đẩy kinh tế – xã hội của tỉnh ngày càng phát triển để Vĩnh Phúc sớm trở thành một tỉnh “giàu đẹp, phồn vinh” như  Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong muốn.

Th.S.Nguyễn Xuân Thăng - Trưởng Khoa Quản lý Nhà nước

Nghiên cứu khoa học

Video

Chương trình Lý luận và cuộc sống tháng 12 năm 2017 Phóng sự kỷ niệm 60 năm thành lập trường Chương trình lý luận và cuộc sống tháng 11 năm 2017 Chương trình lý luận và cuộc sống tháng 10 năm 2017 Chương trình lý luận và cuộc sống tháng 9 năm 2017
Xem tất cả »

Hình ảnh


Liên kết website