Làm thế nào để Nghị quyết của TW Đảng đi vào cuộc sống? Làm thế nào để cuộc sống phản ánh được vào trong Nghị quyết?

Ngày đăng: 06/11/2016

Cuộc sống là tổng thể những hoạt động sống của con người trong xã hội. Đảng cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, mục tiêu Nghị quyết của Đảng nhằm thúc đẩy sự phát triển của xã hội mang lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Việc đưa Nghị quyết của TW Đảng vào cuộc sống và phản ánh cuộc sống vào Nghị quyết thể hiện năng lực lãnh đạo của tổ chức Đảng và đảng viên ở mỗi thời kỳ cách mạng.

I. Làm thế nào để Nghị quyết của TW Đảng đi vào cuộc sống?

1. Quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết của Đảng:

Quy trình chung lâu nay thường áp dụng theo các công đoạn là: Thể chế hoá Nghị quyết, tổ chức nghiên cứu quán triệt học tập Nghị quyết; Chỉ đạo thực hiện Nghị quyết, kiểm tra và sơ tổng kết quá trình thực hiện Nghị quyết. Muốn hoàn thành được mục tiêu của Nghị quyết, các cấp uỷ Đảng xác định đúng đối tượng thực hiện Nghị quyết, phương pháp triển khai Nghị quyết và cơ chế điều hành... Các nội dung này đều liên quan và chi phối lẫn nhau trong suốt quá tình triển khai Nghị quyết.

1.1. Thể chế hoá Nghị quyết: Đây là công đoạn đầu tiên, rất quan trọng ảnh hưởng đến sự thành công của Nghị quyết. Khi có Nghị quyết của TW Đảng, thường trực cấp uỷ các cấp, lựa chọn đội ngũ chuyên gia giỏi, tập trung nghiên cứu kĩ Nghị quyết, tạo điều kiện cho họ có đủ các thông tin cần thiết, để xây dựng các dự thảo, các đề án, các kế hoạch, chương trình công tác, chương trình hành động phù hợp... Tiếp đó cần tranh thủ trí tuệ của các cấp lãnh đạo qua việc mở hội nghị hoặc gửi tài liệu xin ý kiến; sau cùng là hoàn thiện đề án hoặc các chương trình trên. Nội dung này chuẩn bị càng kĩ thì Nghị quyết càng được triển khai có hiệu quả, tuy nhiên không được kéo dài thời gian làm mất tính thời sự của Nghị quyết. Tuỳ theo quy mô và yêu cầu của Nghị quyết mà lựa chọn hình thức thể chế phù hợp như: ra Nghị quyết thực hiện, kết luận của tỉnh uỷ hoặc các chương trình kế hoạch... của các cấp uỷ Đảng, của chính quyền, các đoàn thể, nhân dân... không quá nhiều, quá dài nhưng phải đủ nội dung và đồng bộ.

Ban chấp hành TW Đảng có nhiều Nghị quyết lãnh đạo, vì vậy việc thể chế phải được đầu tư thoả đáng. Nội dung của các văn bản đươc thể chế cần bám sát Nghị quyết của TW Đảng, phải căn cứ vào tình hình cụ thể của địa phương, đơn vị để xác định mục tiêu, nhiệm vụ nhằm làm rõ yêu cầu của Nghị quyết, đồng thời xuất phát từ nguyện vong chính đáng của nhân dân. Mỗi Nghị quyết có nội dung thể chế khác nhau, đội ngũ chuyên gia phải được bổ sung kịp thời, thu thập thông tin nhanh, gọn, chính xác, nhất là cập nhật các thông tin về chủ trương, chính sách mới liên quan đến lĩnh vực mà Nghị quyết điều chỉnh. Cần phân công rõ mỗi thành viên trong bộ phận biên tập nghiên cứu sâu một nhóm vấn đề, sau đó cùng trao đổi để hình thành văn bản thống nhất, đảm bảo tính nghiêm túc, sáng tạo, phù hợp... Khi gửi dự thảo xin ý kiến, chủ yếu tiếp thu các định hướng, làm rõ các giải pháp mà  không nặng về chỉnh sửa câu chữ, văn phạm với những Nghị quyết chuyên đề lớn liên quan đến nhiều lĩnh vực, quá trình thể chế cần tranh thủ chuyên gia của TW, có thể phải làm thử trước, rút ra những kết luận cần thiết, mới quyết định hình thức và nội dung thể chế.

Nội dung thể chế cần chú ý phân cấp, phân loại đối tượng, xác định phạm vi mức độ truyền tải Nghị quyết và yêu cầu thực hiện hoá Nghị quyết, các trọng tâm, trọng điểm, phương pháp và điều kiện hỗ trợ, cơ chế điều hành, điểm chỉ đạo, cơ sở vật chất, lực lượng con người... Và thời gian cần giành cho mỗi công đoạn của Nghị quyết. Việc ban hành văn bản thể chế theo quy định chung của pháp luật.

1.2. Tổ chức nghiên cứu quán triệt học tập Nghị quyết:

Cùng với việc thể chế hoá Nghị quyết của Đảng, công tác tổ chức nghiên cứu quán triệt học tập Nghị quyết là một khâu rất quan trọng nhằm giúp cho cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu Nghị quyết - hiểu đúng thì mới làm đúng và có hiệu quả.

Thông thường là mở hội nghị cán bộ chủ chốt, hội nghị bồi dưỡng báo cáo viên để nghiên cứu các văn bản của TW và các văn bản đã thể chế, thảo luận các biện pháp... Trong công đoạn này, hạn chế là chưa truyền tải được nội dung Nghị quyết vào nhân dân một cách kịp thời, đầy đủ và hiệu quả. Hầu hết các tổ chức, cơ sở Đảng hiện nay thực hiện được việc quán triệt Nghị quyết đến cán bộ đảng viên và BCH các đoàn thể, còn đến dân thì giao cho Đảng viên hoặc đoàn thể tiến hành. Lực lượng chủ công để đưa Nghị quyết vào cuộc sống là nhân dân, cán bộ Đảng viên là nòng cốt lãnh đạo - nếu Nghị quyết có nội dung liên quan đến lợi ích trực tiếp thì dân còn quan tâm, nếu là nội dung khác thì phụ thuộc vào cán bộ đảng viên hướng dẫn, cán bộ đảng viên nào nghiêm túc, tận tuỵ, có trình độ thì dân hiểu đúng Nghị quyết và nhiệt tình thực hiện. Nếu cán bộ đảng viên trình độ hạn chế hoặc quan liêu thì dân sẽ không hiểu đúng về Nghị quyết - hậu quả là không có phong trào cách mạng đích thực thể hiện bằng sự chuyển biến từ nhận thức đến hành động của nhân dân. Hoạt động kiểm tra hàng năm đánh giá, xếp loại đảng viên chỉ thể hiện ở mức khái quát, không làm rõ vai trò của cấp uỷ cơ sở. Tuy nhiên các chương trình công tác với các nhiệm vụ cụ thể ... lại đến với dân, để huy động sức dân, lập thành tích ... lẽ ra người dân khi hiểu đúng nghị quyết không những hưởng ứng tích cực về mặt hành động mà còn đóng góp sáng tạo, phát huy sáng kiến, trở thành động lực thi đua. Trên thực tế, người dân hầu như chỉ được bàn triển khai chương trình hành động của Nghị quyết, như vậy Nghị quyết của TW Đảng tuy không “tắc” nhưng truyền tải vào lực lượng chính triển khai không sâu, đó là chưa kể các bất cập về trình độ dân trí, mức thu nhập của người dân mỗi địa phương khác nhau; có nơi chủ yếu sao gửi chương trình công tác đến tổ dân phố, khu dân cư, còn Nghị quyết chỉ giành cho cán bộ chủ chốt. Do đó, người dân cần phải biết Nghị quyết lại không có Nghị quyết, người có nghị quyết lại không đủ thời gian vì kiêm nhiệm nhiều việc... Để làm tốt công đoạn này, xác định rõ sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ là nhân tố quyết định chất lượng, tổ chức quán triệt Nghị quyết. Đồng thời cần có cơ chế hợp lý để khai thác sử dụng có hiệu quả đội ngũ báo cáo viên, cộng tác viên các cấp và chủ động đổi mới phương thức quán triệt Nghị quyết, tăng cường các hoạt động tuyên truyền phổ biến Nghị quyết tới nhân dân giúp dân hiểu đúng và làm đúng Nghị quyết.

1.3. Tổ chức chỉ đạo thực hiện Nghị quyết:

Sau khi đã nghiên cứu quán triệt Nghị quyết đến các đối tượng đảm bảo chất lượng - việc tổ chức thực hiện Nghị quyết là khâu quyết định tính khả thi của Nghị quyết. Mỗi Nghị quyết của TW Đảng lại có nội dung và yêu cầu cụ thể, vì vậy khi tổ chức triển khai phải coi trọng công tác chỉ đạo điểm, nhân rộng ra toàn ngành hoặc địa phương. Thông thường nội dung triển khai của các nghị quyết được xen kẽ cùng với các nhiệm vụ chuyên môn, nếu không chỉ đạo kiên quyết những nội dung này, dễ mắc biểu hiện coi nhẹ nhiệm vụ của Nghị quyết. Chỉ coi trọng chuyên môn, chế biến các số liệu để báo cáo mà không gắn được vào việc họ đang làm. Từ thực tiễn cuộc sống cho thấy, mỗi người dân, mỗi gia đình thường quan tâm nhiều việc đến việc làm thu nhập để cải thiện điều kiện sống. Nghị quyết dù quan trọng đến mấy nhưng nếu chưa trực tiếp tác động vào cuộc sống của họ thì khó được người dân nghiên cứu. Do đó, các cấp ủy Đảng tích cực tuyên truyền nghị quyết, thông tin nhanh trên các phương tiện thông tin đại chúng, tiến độ triển khai, kịp thời biểu dương động viên các tập thể và cá nhân tiêu biểu, chấn chỉnh uốn nắn các hạn chế thiếu sót, phát hiện những nội dung cần bổ sung, những bất cập cần điều chỉnh cho phù hợp. Ở công đoạn này, đội ngũ cán bộ được phân công triển khai nghị quyết cần năng động, nhiệt tình nắm vững nội dung của Nghị quyết, bám cơ sở, bám dân, biết vận động quần chúng, sẵn sàng giải thích, đối thoại cởi mở với nhân dân... Cùng với yêu cầu trên cần có cơ sở vật chất phù hợp, cơ chế điều hành thông thoáng, tôn trọng lắng nghe và giải quyết kịp thời những thắc mắc trong nhân dân, tạo điều kiện dân biết, dân được bàn, dân được làm, dân được kiểm tra và dân được hưởng những quyền lợi chính đáng. Ảnh hưởng trực tiếp nhất đến thái độ và hành động của nhân dân là tinh thần gương mẫu, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của đội ngũ cán bộ đảng viên, nếu tốt sẽ được quần chúng noi theo và ngược lại ... Điểm cần chú ý là khi chọn điển hình phải đảm bảo đại diện cho đa số đối tượng trong phạm vi chủ đạo, không được ưu tiên hoặc tạo ra các điều kiện không bình thường với đối tượng được chọn làm điển hình, làm như thế sẽ thu được điển hình giả tạo, vấn đề là phải xác định điển hình, công nhận điển hình, phổ biến điển hình sau đó mới là xây dựng và nuôi dưỡng điển hình.

1.4 Công tác kiểm tra quá trình triển khai nghị quyết:

Để đảm bảo chất lượng trong mỗi công đoạn kiểm tra Nghị quyết, các cấp ủy Đảng, chính quyền và các đoàn thể, coi trọng hoạt động kiểm tra, cần có kế hoạch, thời gian tiến hành kiểm tra, đảm bảo cả nội dung kiểm tra và qui mô kiểm tra, kết thúc kiểm tra phải có yêu cầu phúc tra để thẩm định việc chấp hành kết luận kiểm tra trước đó; áp dụng linh hoạt các hình thức kiểm tra như: Kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kỳ, kiểm tra bất thường, kiểm tra chéo, kiểm tra chuyên đề, không kiểm tra tràn lan, kéo dài, phải chọn trọng tâm, trọng điểm và sử dụng lực lượng kiểm tra phù hợp cả về số lượng và thời gian, thời điểm kiểm tra. Quá trình kiểm tra tuân thủ nguyên tắc dựa vào tổ chức Đảng, tinh thần tự giác của Đảng viên, tích cực của quần chúng nhân dân và phải làm tốt các yêu cầu về thẩm tra xác minh. Kết hợp kiểm tra của Đảng, đoàn thể với hoạt động thanh tra của Nhà nước. Sau kiểm tra cần có kết luận rõ ràng ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân, nếu có vi phạm, kiên quyết xử lý theo qui định của Điều lệ Đảng và pháp luật, thông báo bằng những hình thức thích hợp kết quả kiểm tra cho nhân dân biết. Làm tốt yêu cầu này nhân dân sẽ tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, tích cực hưởng ứng và tham gia các phong trào thi đua do địa phương phát động.

1.5 Việc sơ kết trong quá trình triển khai nghị quyết:

Tuỳ theo thời gian triển khai của mỗi Nghị quyết, các cấp ủy Đảng, chính quyền và các đoàn thể cần chủ động tiến hành sơ tổng kết Nghị quyết nhằm đánh giá chính các ưu điểm, hạn chế trong quá trình triển khai, xác định các nguyên nhân thành công và chưa thành công ở từng công đoạn, làm rõ được phạm vi trách nhiệm của các cấp, các ngành, các cá nhân và tổ chức, đánh giá hiệu quả của Nghị quyết từ kết quả các phong trào thi đua đã phát động. Việc sơ tổng kết phải rút ra được các bài học kinh nghiệm trong chỉ đạo điều hành, trong sử dụng bộ máy tổ chức và cơ sở vật chất ... đồng thời tham mưu đề xuất với TW những nội dung bổ sung cần thực hiện, góp phần tổng kết thực tiễn, lý giải những vấn đề mới do cuộc sống đặt ra. Nội dung sơ tổng kết phải gắn liền với những chương trình, chủ trương công tác mới cùng với những định hướng cụ thể để thực hiện thắng lợi các mục tiêu nhiệm vụ. Cần có những hình thức, những danh hiệu khen thưởng thỏa đáng, công bố kịp thời để động viên và nuôi dưỡng những động lực thi đua, chú ý khắc phục những biểu hiện “Đầu voi đuôi chuột”, “Trên khen dưới thưởng” hạn chế những ảnh hưởng tích cực mà Nghị quyết đã thu được.

2. Khái quát hiệu quả triển khai các Nghị quyết của Trung ương Đảng ở Vĩnh Phúc - Một số kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn:

2.1. Trong những năm qua, Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc đã triển khai đầy đủ, nhiêm túc các chỉ thị, Nghị quyết của Trung ương Đảng, việc xây dựng các chương trình công tác phù hợp, tổ chức thực hiện có hiệu quả đã tạo được chuyển biến mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng. Nếu chỉ tính riêng những văn bản được thể chế của khối Đảng cấp tỉnh và huyện, theo số liệu của văn phòng tỉnh uỷ, trong 5 năm qua BCH và BTV Tỉnh uỷ đã ban hành 24 Nghị quyết, 12 Chỉ thị, 23 Chương trình, 39 kết luận, 52 Thông tri. Từ năm 2001 đến 2003, các Huyện, Thị uỷ đã ban hành 42 Nghị quyết chuyên đề, 21 Chỉ thị, 161 Thông tri, 262 kết luận, 186 đề án chương trình, 263 kế hoạch... cấp sơ sở cũng có nhiều chương trình hành động thiết thực, đó là chưa kể đến hoạt động của các cơ quan chuyên môn giúp việc cấp uỷ các cấp, các cơ quan chính quyền, đoàn thể....tập trung hướng về cơ sở, nhờ những nỗ lực đó các chủ trương công tác ngày càng được nhân dân đồng tình và ủng hộ. Thành công nổi bật của việc triển khai Nghị quyết của Trung ương Đảng ở Vĩnh Phúc là lĩnh vực kinh tế. Khi mới tái lập ( 1997), Vĩnh Phúc là Tỉnh thuần nông, GDP bình quân người chỉ bằng 47,8% bình quân cả nước, tỷ trọng công nghiệp chiếm 12,9% GDP, tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt 84 tỷ đồng... Nhờ có sự chỉ đạo hướng nền kinh tế Vĩnh Phúc có bước phát triển khá, nhịp độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm là 17,5%. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, tỷ trọng Công nghiệp trong cơ cấu kinh tế tăng bình quân hàng năm là 18,6%. Thu hút đầu tư trên  địa bàn tỉnh tăng mạnh, đã ccó trên 60 dự án FDI với 555,5 triệu USD và 261 dự án DDI với số vốn 13.419 tỷ đồng đầu tư vào các chương trình kinh tế của Tỉnh , giải quyết việc làm trên 11.000 lao động, tổng thu gân sách năm 2004 gấp 20 lần năm 1997, trật tự trị an được giữ vững, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, lòng tin của quần chúng nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng được củng cố vững chắc.

2.2. Thực tiễn triển khai các Nghị quyết của Trung ương Đảng ở Vĩnh Phúc cho thấy: Hầu  hết các Nghị quyết có phạm vi phổ quát rộng, nhiều cấp, nhiều ngành cùng phải triển khai... tạo được dư luận xã hội nhanh hơn như: Nghị quyết Trung ương 7, Trung ương 9 khoá IX.. với các nghị quyết của Trung ương Đảng mà theo đó yêu cầu triển khai dẫn đến những thay đổi về cách nghĩ, cách làm của tổ chức,  cá nhân thì dễ gặp những trở ngại như Nghị quyết Trung ương 3, Trung ương 4 khoá IX về sắp sếp đổi mới và cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước... Nguyên nhân chính là tính bảo thủ và ngại thay đổi, loại Nghị quyết này mang tính chuyên đề, nên khi tổ chức triển khai cần đầu tư lực lượng cán bộ đủ mạnh, cơ chế điều hành thông thoáng nhưng kiên quyết mới đem lại hiêu quả thực sự, nếu cần có thể thành lập Ban chỉ đạo các cấp, hoạt động kiểm tra được tiến hành trong tất cả các công đoạn, những bất cập được phát hiện có thể được điều chỉnh, bổ xung mà không nhất thiết đợi đến sơ kết tổng kết Nghị quyết. Nội dung cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước lúc dầu ở Vĩnh Phúc cũng gặp khó khăn, nhưng với phương châm, phương pháp chỉ đạo tích cực của Tỉnh uỷ đã đạt kết quả tốt.

2.3. Một số kinh nghiệm bước đầu trong qua trình tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết của Trung ương Đảng ở Vĩnh Phúc:

- Trong các công đoạn triển khai tổ chức thực hiện Nghị quyết đề cao vai trò lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng, tinh thần gương mẫu của cán bộ đảng viên. Với các Nghị quyết chuyên đề, cần có sự đầu tư trọng điểm, hợp lý nhằm tạo ra đột phá giải quyết những vướng mắc hiện tại.

- Tăng cường củng cố đoàn kết nhất trí của hệ thống chính trị từ Tỉnh đến cơ sở nhằm tạo sự đồng thuận trong nhân dân cùng hưởng ứng thực hiện Nghị quyết, cùng tập trung triển khai các yêu cầu của Nghị quyết.

- Coi trọng công tác chỉ đạo điểm, xây dựng điển hình, bồi dưỡng nòng cốt trong quần chúng nhân dân, chủ động đổi mới phương thức học tập triển khai Nghị quyết.

- Thường xuyên tranh thủ sự lãnh đạo chỉ đạo của Bộ chính trị, Ban bí thư, Chính phủ, các Bộ, ban, ngành, đoàn thể Trung ương kết hợp việc chủ động nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm từ các ngành, các địa phương bạn, tham khảo các mô hình đã thành công ở nước ngoài để rút kinh nghiệm khi triển khai ở Tỉnh.

- Có cơ chế đầu tư và điều hành phù hợp đáp ứng kịp thời các yêu cầu trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết của Trung ương Đảng.

II. Làm thế nào để cuộc sống được phản ánh vào trong Nghị quyết:

Nghị quyết của Đảng mới chỉ là định hướng và khả năng muốn trở thành hiện thực thì Nghị quyết đó phải đi vào cuộc sống và được cuộc sống phản ánh. Thước đo sự thành công của Nghị quyết chính là xem xét thực tế cuộc sống phản ánh vào Nghị quyết ở những mức độ, những tiêu chí nhằm trả lời được những câu hỏi sau:

- Nghị quyết khi ban hành có tạo được đồng thuận ủng hộ của nhân dân hay không?

- Nghị quyết đó có huy động được lực lượng nhân dân tham gia, tạo được phong trào thi đua thiết thực không?

- Nghị quyết đó có đem lại những chuyển biến mới về lợi ích vật chất, tinh thần cho nhân dân, làm cho đời sống của nhân dân không ngừng được cải thiện, tháo gỡ được những vướng mắc hiện tại của nhân dân, đảm bảo tính ổn định và bền vững, phù hợp với xu thế phát triển hay không?

Về mặt lý luận, cơ sở để xây dựng Nghị quyết đúng đắn là nắm vững phép biện chứng giữa cái chung và cái riêng, phát hiện ra những mâu thuẫn chủ yếu trong từng thời kỳ, từng địa phương, từng cơ sở ... nhằm giải quyết có hiệu quả các mẫu thuẫn đó. Đáp ứng được yêu cầu trên Nghị quyết đã phản ánh đúng nhu cầu và tham gia giải quyết những mâu thuẫn của cuộc sống. Có thể sắp xếp những nội dung trên thành một số vấn đề sau:

1. Phạm vi của Nghị quyết phụ thuộc vào vị trí của tổ chức, cơ quan ban hành Nghị quyết. Xác định được phạm vi điều chỉnh của Nghị quyết mới hoạch định được những công việc tiếp theo.

2. Phải có cơ chế phù hợp để nắm thông tin, nhận dạng mâu thuẫn, phát hiện những vấn đề đang được dư luận quan tâm nhưng chưa có định hướng tháo gỡ cụ thể ( ví dụ: Do phát triển nhiều khu Công nghiệp, người dân thiếu việc làm vì thu hồi đất ... vấn đề này đòi hỏi phải có Nghị quyết lãnh đạo về giải quyết việc làm, củng cố làng truyền thống và mở mang nghề mới cho nhân dân.)

3. Cuộc sống phong phú và đa dạng, vì vậy không phải tất cả các mâu thuẫn trong cuộc sống phải dùng đến Nghị quyết; không phải các Nghị quyết chỉ dùng để giải quyết mâu thuẫn. Cơ quan tham mưu giúp cấp uỷ xây dựng các Nghị quyết lãnh đạo cần tập trung đầu tư nghiên cứu để khi Nghị quyết được ban hành có tính khả thi cao.

4. Nội dung của Nghị quyết lãnh đạo của Đảng nhằm hướng tới yêu cầu giải phóng con người. Muốn để con người được hưởng thụ sự giải phóng, phải tính toán đến các yếu tố về trình độ dân trí, phong tục tập quán, tôn giáo, khả năng đầu tư, khả năng thực hiện, cơ chế chính sách hiện hành... Trên thực tế, tính vượt trước của một số Nghị quyết tuy đúng hướng nhưng khó triển khai thực hiện.

5. Lợi ích của Nghị quyết thường hướng vào cái chung, cái tổng thể, vì vậy khó tránh khỏi tính áp đặt, bắt buộc đối với cá thể, bộ phận. Nội dung này thường xảy ra với các Nghị quyết chuyên đề. Vì vậy phải lường trước các hiệu ứng trên để có phương án xử lý phù hợp, phòng ngừa sự phát sinh điểm nóng dễ bị kẻ xấu lợi dụng, nhưng vẫn phải kiên quyết triển khai Nghị quyết. (Ví dụ: việc giải toả đền bù giải phóng mặt bằng khu công nghiệp là để phục vụ cho chiến lược công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nhưng nột số hộ dân mất ruộng, mất việc làm, Vĩnh Phúc áp dụng cơ chế đất dịch vụi và hỗ trợ việc làm có thu nhập ổn định được nhân dân đồng tình ủng hộ cao)

KẾT LUẬN

                Việc đưa Nghị quyết của TW Đảng vào cuộc sống và phản ánh cuộc sống vào Nghị quyết lãnh đạo của Đảng là nội dung quan trọng, góp phần khẳng định vị trí vai trò lãnh đạo của Đảng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Trên thực tế không phải tất cả các thành tựu trong cuộc sống có được là nhờ Nghị quyết; cũng không phải tất cả các Nghị quyết đã ban hành đều đạt được hiệu quả triệt để; không phải tất cả các Nghị quyết đều phải phổ biến đến nhân dân - nhưng nếu có yêu cầu đó trong Nghị quyết thì phải quyết tâm thực hiện. Những bức xúc trong cuộc sống càng được Nghị quyết quan tâm phản ánh kịp thời, đầy đủ càng đề cao uy tín lãnh đạo của Đảng trong xã hội. Do đó, các cấp uỷ Đảng cần đầu tư thoả đáng đến yêu cầu ra Nghị quyết và tổ chức thực hiện thắng lợi Nghị quyết của cấp trên và cấp mình, tạo ra sự chuyển biến thực sự trong nhận thức và hành động của mỗi cán bộ đảng viên và nhân dân góp phần đẩy mạnh nhanh sự nghiệp CNH- HĐH đất nước.

Nguyễn Quỳnh Giao - Trưởng Khoa Xây dựng Đảng Trường Chính trị tỉnh Vĩnh Phúc

Nghiên cứu khoa học

Video

Phóng sự kỷ niệm 60 năm thành lập trường Chương trình lý luận và cuộc sống tháng 11 năm 2017 Chương trình lý luận và cuộc sống tháng 10 năm 2017 Chương trình lý luận và cuộc sống tháng 9 năm 2017 Chương trình Lý luận và cuộc sống tháng 7 năm 2017
Xem tất cả »

Hình ảnh


Liên kết website