Tổng hợp Tạp chí Lịch sử Đảng số 8 năm 2016

Ngày đăng: 10/10/2016

Bước sang giai đoạn cách mạng mới, ĐCSĐD và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã có những bước chuẩn bị rất cơ bản cả về lý luận và thực tiễn cho việc giải phóng dân tộc, giành độc lập và xác lập chế độ cộng hòa dân chủ ở Việt Nam.

1. Xác lập chế độ cộng hòa dân chủ, một thành tựu vĩ đại của cách mạng tháng Tám năm 1945, tác giả GS.TS Phạm Hồng Tung, Đại học Quốc gia Hà Nội.

Bước sang giai đoạn cách mạng mới, ĐCSĐD và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã có những bước chuẩn bị rất cơ bản cả về lý luận và thực tiễn cho việc giải phóng dân tộc, giành độc lập và xác lập chế độ cộng hòa dân chủ ở Việt Nam.

Trong bối cảnh của cuộc Thế chiến II, Việt Nam nằm dưới ách thống trị kép của thực dân Pháp và phát xít Nhật Bản, trong khi bộ máy thống trị quân chủ chuyên chế của Nam triều vẫn tiếp tục được cả Pháp và Nhật dung dưỡng và lợi dụng như một công cụ cai trị của chúng. Trước tình hình đó, ĐCSĐD đã từng bước chuyển hướng cách mạng. Sau 30 năm hoạt động ở nước ngoài, đầu năm 1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã trở về trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Tháng 5/1941, dưới sự chủ trì của Người, Hội nghị Trung ương 8 đã xác định: "....cuộc cách mạng Đông Dương trong giai đoạn hiện tại là cuộc cách mạng dân tộc giải phóng", do đó, "quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử tồn vong của quốc gia, dân tộc". Theo tinh thần đó, Đảng đã xác định lại phương thức tiến hành cách mạng trong phạm vi từng dân tộc trên bán đảo Đông Dương".

Xác lập nền cộng hòa dân chủ là một thành tựu vĩ đại của Cách mạng tháng Tám năm 1945. Tác giả và là tổng công trình sư của sự nghiệp vĩ đại này là lãnh tụ Hồ Chí Minh. Tư tưởng về một nền cộng hòa dân chủ được Người tiếp thu trong hành trình đi tìm đường cứu nước và hiện thực hóa nó trong cuộc đấu tranh giành, giữ, bảo vệ và xây dựng chính quyền.

2. Đồng chí Phạm Văn Đồng với cao trào giải phóng dân tộc và thắng lợi của cách mạng tháng Tám năm 1945, tác giả PGS, TS.Nguyễn Trọng Phúc; TS.Phạm Đức Kiên - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.

Cùng với sự phát triển của các hướng Nam tiến, Đông tiến, đến cuối năm 1943, hướng Tây tiến do Phạm Văn Đồng phụ trách đã cơ bản được khai thông từ Hòa An (Cao Bằng) qua Nậm Quét - Bảo Lạc sang Đồng Văn - Quản Bạ (Hà Giang) đi Navian, Côn Minh; chuyển vũ khi đầu tiên do cơ sở của ta từ Côn Minh gửi về nước, qua đường Tây tiến đã chuyển về trung tâm căn cứ Cao Bằng để trang bị cho các đội tự vệ chiến đấu. Đầu năm 1944, thành lập Liên Tỉnh ủy Cao - Bắc - Lạng và Ban cán sự Việt Minh liên tỉnh để chỉ đạo căn cứ địa Cao Bằng và Bắc Sơn - Võ Nhai. Các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Vũ Anh được Trung ương cử làm đại diện của Trung ương giúp Liên Tỉnh ủy và Ban cán sự Việt Minh chỉ đạo phong trào.

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thắng lợi nhờ sức mạnh đại đoàn kết của toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo, tổ chức của Đảng, Mặt trật Việt Minh và lãnh tụ Hồ Chí Minh. Đã kết hợp thành công sức mạnh của toàn dân tộc với điều kiện quốc tế thuận lợi. Kết hợp thành công về nắm bắt thời cơ, đẩy lùi nguy cơ, thách thức, nắm vững mục tiêu chiến lược và vận dụng sách lược khôn khéo để giành thắng lợi nhanh và ít tổn thất. Với bản lĩnh và tinh thần trách nhiệm, những quyết sách cực kỳ sáng suốt, kịp thời đưa cuộc cách mạng đến thắng lợi.

3. Sự thống nhất giữa độc lập dân tộc với dân chủ và hạnh phúc của nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh, tác giả PGS.TS Phạm Ngọc Anh; Ths.Nguyễn Văn Nguyên - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.

Quan điểm về sự thống nhất giữa độc lập dân tộc với dân chủ và hạnh phúc của nhân dân được hiện thực hóa qua từng giai đoạn lịch sử của dân tộc. Các mục tiêu chiến lược đó lại được diễn đạt một cách cụ thể sát hợp với tình hình, nhiệm vụ của từng giai đoạn đó những không tách rời tiêu chí vì độc lập dân tộc, dân chủ và hạnh phúc cho nhân dân.

Để tiến tới xã hội XHCN có đầy đủ các điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nhằm thực hiện được hoàn chỉnh tiêu chí của xã hội XHCN đã dần dần được thể hiện khi tiến bước hình thành một chế độ chính trị dân chủ, một nền kinh tế hiện đại dựa trên cơ sở "gắn liền với sự phát triển khoa học và kỳ thuật, và sự phát triển văn hóa của nhân dân" và có sự "công bằng hợp lý" về mặt xã hội.

Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định: "Chân lý là cái gì có lợi cho tổ quốc, cho nhân dân. Cái gì trái với lợi ích của tổ quốc, của nhân dân tức là không phải chân lý". Do đó, độc lập cho dân tộc, dân chủ và hạnh phúc cho nhân dân là thước đo, là tiêu chuẩn của chân lý cho tất cả các hoạt động xây dựng và phát triển đất nước và đó chính là giá trị vĩnh cửu của tư tưởng Hồ Chí Minh với thời đại ngày nay.

4. Tôn trọng và phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức của các tôn giáo theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, tác giả TS.Nguyễn Xuân Trung - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.

Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đã phát triển thêm một bước dài trong quan điểm về tôn giáo khi khẳng định: "Quan tâm và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của các tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, theo quy định của pháp luật đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước". Điều này thể hiện tầm nhìn mới của Đảng đối với các tổ chức tôn giáo hợp pháp. Tạo điều kiện cho các tôn giáo sinh hoạt chính là tạo điều kiện cho các tôn giáo phát triển.

Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo đồng thời chống lợi dụng tín ngưỡng có quan hệ chặt chẽ với nhau. Đặc biệt, trong bối cảnh tôn giáo có nhiều diễn biến phức tạp như Đại hội XII của Đảng đã chỉ ra: "xung đột sắc tộc, tôn giáo, can thiệp lật đổ, khủng bố, chiến tranh cục bộ, chiến tranh mạng.... tiếp tục diễn ra gay gắt ở nhiều khu vực". Vì thế, có kiên quyết chống lợi dụng tôn giáo mới đảm bảo được quyền tự do chân chính của đồng bào có đạo, và có bảo đảm quyền ấy mới làm cho đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo tự giác chống lại những thế lực lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để phá hoại cách mạng.

Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đã tiến thêm một bước quan trọng trong nhận thức và hành động của Đảng về tôn giáo, tín ngưỡng, góp phần quan trọng củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, thực hiện thắng lợi những mục tiêu của cách mạng Việt Nam trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay.

5. Quá trình phát triển nhận thức của Đảng về đường lối đối ngoại (1986 - 2016), tác giả Ths.Chúc Bá Tuyên, Học viện Chính trị khu vực III.

Trong hơn 30 năm đổi mới, Đảng và Nhà nước ta luôn đổi mới tư duy, phát triển đường lối đối ngoại trên cơ sở kiên trì nguyên tắc "vì lợi ích quốc gia, dân tộc". Nhờ vậy, hoạt động đối ngoại của Việt Nam thu được nhiều thành công, góp phần không nhỏ vào những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới, bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia trong bối cảnh mới.

Nhận thức của Đảng về tình hình thế giới và khu vực cũng luôn đổi mới và thực tế hơn, thấy được cả những thách thức và cơ hội mới đặt ra, từ đó kịp thời đề ra chính sách phù hợp với chiều hướng phát triển của khu vực và thế giới.

Có thể nói, Đảng đã nhận thức một cách nhanh nhạy và kịp thời những biến đổi nhanh chóng, liên tục của tình hình thế giới, từ đó tích cực, chủ động đổi mới tư duy đối ngoại và từng bước hoàn thiện đường lối đối ngoại đổi mới, chủ động hội nhập khu vực và thế giới. Thông qua đó, Việt Nam thúc đẩy mạnh mẽ các mối quan hệ đối ngoại song phương và đa phương, tham gia và phát huy tốt vai trò tại các diễn đàn quốc tế và khu vực như: Liên hợp quốc, Phong trào không liên kết, ASEAN, ARF, ASEM..... Nhờ vậy, Việt Nam tận dụng được các nguồn lực của thế giới để đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH đất nước, mặt khác duy trì được môi trường hòa bình, ổn định để phát triển, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia và nền độc lập của dân tộc./.

Tổng hợp: Phạm Thanh

Nghiên cứu khoa học

Video

Chương trình Lý luận và cuộc sống tháng 12 năm 2017 Phóng sự kỷ niệm 60 năm thành lập trường Chương trình lý luận và cuộc sống tháng 11 năm 2017 Chương trình lý luận và cuộc sống tháng 10 năm 2017 Chương trình lý luận và cuộc sống tháng 9 năm 2017
Xem tất cả »

Hình ảnh



Liên kết website